1231 lượt xem

Kinh Tụng & Hành Trì Phật Pháp Hằng Ngày

Chùa Pháp Nhãn

KINH TỤNG HẰNG NGÀY

Việt và Anh

Tỳ Kheo Thích Trừng Sỹ biên soạn

 

ĐÔI LỜI GIỚI THIỆU

Nghi Thức Kinh Tụng Hằng Ngày bằng tiếng Việt và tiếng Anh do thầy Thích Trừng Sỹ biên soạn tổng hợp những lời đức Phật dạy rất hữu ích và thiết thực phù hợp với các trẻ em và người bản địa đang sinh sống và làm việc tại Hoa Kỳ.

Nghi thức tụng niệm này không những là món ăn tinh thần không thể thiếu cho các hành giả, mà còn là phương pháp tiếp cận và chiêm nghiệm lời Phật dạy rất hữu hiệu vào trong đời sống hằng ngày. Để đọc tụng, áp dụng, và thực hành Phật pháp từ nghi thức tụng niệm này, hành giả có thể thưởng thức những Pháp học, Pháp hành, Pháp hỷ, và Pháp lạc ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại để đem lại lợi ích cho số đông trên khắp hành tinh này.

Kính chúc quý hành giả thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Facebook: Phap Nhan Temple

Website: dharmaeye.net/

Email: phapnhantemple@gmail.com

512-366-2686

 

MỤC LỤC

Kinh Giáo Huấn Vắn Tắt, Cốt Yếu, và Tối Hậu của Đức Phật Trước Khi Nhập Niết Bàn

Kinh Dạy Về Đức Phật Lịch Sử   

Kinh Phước Đức       

Kinh Từ Bi

Kinh Dạy Người Con Phật 

Niệm Ân Phật Bảo

Niệm Ân Pháp Bảo

Niệm Ân Tăng Bảo

Niệm Ân Giới Pháp

Tụng Năm Điều Đạo Đức   

Tưới Tẩm Hạt Giống Tốt   

Kinh Thiện Sinh 

Kinh Dạy Về Niềm Tin Chân Chánh

Nương Tựa Tam Bảo

Nghi Thức Phật Đản    

Nghi Thức Vu Lan  

Nghi Thức Sám Hối          

Nghi Thức Ăn Cơm Chánh Niệm   

Nghi Thức Cúng Giác Linh   

Nghi Thức Cúng Linh Hương Linh 

 

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Tán Phật

Xin tốt như hoa sen

Rạng ngời như Bắc đẩu

Xin quay về nương tựa

Bậc Thầy của nhân thiên.

Sen quý nở đài giác ngộ,

Hào quang chiếu rạng mười phương,

Trí tuệ vượt tầm pháp giới,

Từ bi thắm nhuần non sông,

Vừa thấy dung nhan Điều Ngự,

Tâm thành trọn lòng kính dâng,

Hướng về tán dương Tam Bảo,

Tinh chuyên đạo nghiệp vun trồng. (O)

Dâng Hương

Hương đốt khói trầm xông ngát

Kết thành một đóa tường vân,

Đệ tử đem lòng thành kính

Cúng dường chư Phật mười phương

Giới luật chuyên trì nghiêm mật

Công phu thiền định tinh cần

Tuệ giác hiện dần quả báu

Dâng thành một nén tâm hương.

Chúng con kính dâng hương giới, hương định, hương tuệ, hương giải thoát, hương giải thoát tri kiến lên chư Phật, chư vị Bồ Tát, chư hiền thánh Tăng, chư hộ pháp, thiện thần, chứng minh lòng thành kính của chúng con. (O)

Kính đảnh lễ Tam Bảo

Phật bảo sáng vô cùng

Đã từng vô lượng kiếp thành công

Đoan nghiêm thiền tọa giữa non sông

Sáng rực đỉnh Linh Phong

Trên trán phóng hào quang rực rỡ

Chiếu soi sáu nẻo hôn mông

Long Hoa hội lớn nguyện tương phùng

Tiếp nối Pháp chánh tông

Về nương tựa Phật Bảo

Xin quy y thường trú Phật-đà-gia.

Đệ tử chúng con chí tâm kính lễ chư Phật thường trú trong ba đời và mười phương. (O, 1 lạy)

 

Pháp bảo đẹp vô cùng

Lời vàng do chánh Phật tuyên dương

Chư thiên trỗi nhạc tán hoa hương

Pháp mầu nhiệm tỏ tường

Ghi chép rõ ràng thành Ba Tạng

Lưu truyền hậu thế khắp mười phương

Chúng con nay thấy được con đường

Về nương tựa Pháp Bảo

Xin quy y thường trú Đạt-mạ-gia.

Đệ tử chúng con chí tâm kính lễ chư Pháp thường trú trong ba đời và mười phương. (O, 1 lạy)

 

Tăng bảo quý vô cùng

Phước điền hạt tốt đã đơm bông

Ba y một bát bước thong dong

Giới định tuệ dung thông

An trú đêm ngày trong chánh niệm

Thiền cơ chứng đạt nên công

Chúng con tất cả nguyện một lòng

Về nương tựa Tăng Bảo

Xin quy y thường trú Sanghaya.

Đệ tử chúng con chí tâm kính lễ chư Tăng thường trú trong ba đời và mười phương. (O, 1 lạy)

(Thiền tập 15 phút)

 

Khai Kinh

Pháp Phật cao siêu mầu nhiệm
Cơ duyên nay được thọ trì
Xin nguyện đi vào biển tuệ
Tinh thông giáo nghĩa huyền vi. (O)

 

 

 

Kinh Giáo Huấn Vắn Tắt, Cốt Yếu, và Tối Hậu của Đức Phật Trước Khi Nhập Niết Bàn

Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chuyển vận bánh xe chánh Pháp, lần đầu tiên hóa độ tôn giả A-nhã Kiều-trần-như, và lần thuyết pháp cuối cùng, Đức Phật hóa độ tôn giả Tu-bạt-đà-la. Những người đáng được hóa độ, Ngài đã hóa độ tất cả, vào đêm cuối trước khi nhập Niết-bàn, trong rừng Sa la, giữa cây song thọ, không gian hoàn toàn yên lặng, không một tiếng động, Đức Phật đã nói tóm tắt những điều cốt yếu của chánh Pháp cho các đệ tử như sau:

“Này các đệ tử, sau khi Như lai diệt độ, các vị phải trân trọng tôn kính giới luật, như người nghèo khổ gặp được vàng ngọc, như người đi trong đêm tối gặp được ánh sáng, như kẻ đui mù mắt được sáng ra. Ý thức rằng giới luật là bậc thầy tốt nhất cho các vị; việc tu học, áp dụng, và thực hành giới luật vào trong đời sống hằng ngày là những việc làm thiết thực, giá trị, và hữu ích cho các vị; dẫu có sống nhiều năm ở đời đi chăng nữa, nhưng Như Lai cũng không ngoài mục đích khuyên dạy các vị về giới luật ấy mà thôi.”       

Người xuất gia giữ gìn giới luật thì không nên buôn, bán, đổi chác, kinh doanh nhà cửa, đầu tư lâm nghiệp, nông nghiệp, hải sản, thủy sản, nuôi người, tôi tớ, và súc vật, theo kiểu thế tục, và không nên chặt đốn cây cối, đốt phá núi rừng, coi bói tướng số, thiên văn, ngày giờ tốt, xấu, xem sao giải hạn, và coi phong thủy; tất cả các việc nêu trên đều không thích hợp với các vị, hãy tránh xa chúng như tránh hố lửa. 

Do vậy, các vị nên sống tiết chế thân mạng, ăn uống điều độ, duy trì nếp sống thanh cao và giải thoát, không tham gia chính trị, lãnh đạo sứ mạng liên lạc chính trị, không được luyện bùa chú, chế linh dược, giao hảo với người bất thiện, và kết thân với kẻ ngạo mạn. Sống tinh cần, tỉnh thức, chánh niệm, tĩnh giác, vững chãi, và thảnh thơi trong từng giây từng phút để đạt được đạo quả giải thoát, các vị không được che giấu lỗi lầm và bày vẻ những điều mê hoặc để quyến rũ quần chúng. Khi thọ nhận phẩm vật cúng dường của người đàn việt, các vị phải lượng phúc đức của mình, ít ham muốn, biết cách sống vừa đủ để hành đạo, không nên tích trữ tài sản để trổi dậy lòng tham.

Như lai vừa nói tóm tắt về việc giữ giới; Giới là nền tảng căn bản của sự giải thoát được mệnh danh là Ba-la-đề-mộc-xoa; người giữ giới có thể sống cuộc đời an vui và hạnh phúc và có thể đem lại lợi ích cho tự thân và cho tha nhân ngay trong cuộc sống hiện tại, nhờ giữ gìn giới luật, thiền định phát sinh, nhờ thực tập thiền định, trí tuệ phát sinh, và nhờ trí tuệ phát sinh, các vị có khả năng nhận diện và chuyển hóa khổ đau tốt đẹp.

Này các đệ tử, việc giữ giới luật rất quan trọng và cần thiết cho đời sống của quý vị; Những ai giữ gìn tịnh giới tinh chuyên và hoàn hảo thì người đó có công đức và pháp lành, ngược lại, những ai giữ gìn tịnh giới không tinh chuyên và không hoàn hảo, thì công đức và pháp lành của họ không dễ phát sinh. Do đó, các vị nên biết rằng tịnh giới là chỗ yên ổn nhất, làm nơi trú ẩn an toàn cho mọi thứ công đức và pháp lành phát sinh.

Này các đệ tử, khi giữ gìn giới luật, thì các vị phải khéo léo chế ngự năm giác quan, không để cho chúng rong ruổi theo năm thứ dục lạc: tài năng, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, và ngủ nghỉ, như kẻ chăn trâu cầm roi không để cho trâu dẫm đạp và ăn lúa mạ của người. Một khi các vị sống phóng túng năm thứ giác quan, thì năm thứ dục lạc sẽ chế ngự và chi phối đời sống của các vị, như con ngựa hung hãn nếu không chế ngự bằng dây cương, thì nó sẽ mang con người lao xuống hầm hố. Nạn giặc cướp làm con người chỉ khổ một đời trong khi nạn giặc giác quan làm con người khổ đau trong nhiều kiếp. Do đó, các vị phải nên cẩn trọng tai hại của các giác quan, người có trí tuệ canh giữ các giác quan như canh giữ giặc không để cho chúng phóng túng và buông lung.

Này các đệ tử, trong năm giác quan của con người, tâm đóng vai trò quan trọng nhất. Tâm niệm lành sẽ đưa đến hành động lành và ý nghĩ lành, và tâm niệm không lành sẽ đưa đến hành động và ý nghĩ không lành; tâm niệm lành sẽ đưa đến lợi mình và lợi người, ngược lại, tâm niệm không lành sẽ đưa đến hại mình và hại người. Do vậy, các vị phải cố gắng phát triển tâm niệm lành để đem đến lợi lạc cho quần sinh, cẩn thận chế ngự tâm ý tà vậy của các vị. Tâm ý tà vậy rất là nguy hiểm, đáng sợ hơn thú dữ và rắn độc, như một người cứ say mê cầm chén mật trên tay và không để ý tới hầm hố và vực thẳm bên đường, như con voi điên mà không có móc sắc, như khỉ, vượn gặp rừng cây tha hồ tung tăng, nhảy nhót. Chế ngự được chúng thì thật là khó khăn. Do vậy, các vị cố gắng chế ngự tâm buông lung và bất thiện của mình. Để giữ gìn và phát triển các pháp lành, các vị thường xuyên quán chiếu tâm ý của mình bằng cách thực hành thiền tập và theo dõi hơi thở vào và hơi thở ra một các chánh niệm và tĩnh giác. Khi tâm mình định tĩnh và sáng suốt, thì lúc đó, các vị có thể giải quyết mọi thứ tốt đẹp, dễ dàng, thích hợp, và nhanh chóng.    

Này các đệ tử, khi thọ dụng đồ ăn thức uống của người thí chủ cúng dường, các vị nên xem chúng như thuốc, ngon không ham, dở không chê. Ăn uống vừa đủ để duy trì cơ thể cho khỏi đói khát, như con ong tìm hoa hút mật, hút xong rồi bay đi, nhưng nó không làm tổn thương hương sắc của hoa. Cũng vậy, người xuất gia khi thọ dụng vật thực cúng dường của người đàn việt chỉ đủ sức khỏe để tu học, không được tham cầu vật thực cúng dường quá nhiều sẽ làm tổn giảm niềm tin hộ pháp của người thí chủ. Khi thọ nhận vật chất cúng dường của người thí chủ, các vị hãy nỗ lực tu tập để tạo thêm công đức và tín tâm cho người đàn việt, ngược lại, nếu thọ nhận vật phẩm cúng dường của người đàn việt, các vị không siêng năng tu tập, thì phước đức của người nhận sẽ bị tổn giảm, và phước đức của người cho sẽ không tăng trưởng. Là người có trí, các vị hãy thường xuyên quán chiếu như vậy một cách khéo léo trong việc thọ nhận vật chất cúng dường của người đàn việt để đem lại lợi ích cho tự thân và cho tha nhân ngay trong cuộc sống hiện tại.

Này các đệ tử, ban ngày, các vị nỗ lực tu tập pháp lành, không để thời gian trôi qua lãng phí. Đầu đêm, cuối đêm, các vị siêng năng tụng niệm, giữa đêm, các vị hành trì thiền định để nạp thêm bình điện tâm linh, tăng trưởng điều lành, và chuyển hóa điều ác. Ngủ nghỉ quá nhiều sẽ làm cuộc đời trở nên vô ích, hãy nên nhớ rằng ngọn lửa vô thường đang đốt cháy đời người, và hãy tinh tấn lên để tự cứu mình. Con ma ham ngủ và lười biếng dữ hơn kẻ thù luôn luôn rình rập và giết hại cuộc đời. Hãy cảnh giác phiền não đang ngủ ngầm trong tâm, như cảnh giác con rắn độc đang nằm trong góc nhà. Hãy dùng móc sắt giới hạnh, thiền định, tinh tấn, chánh niệm, và tỉnh thức để kéo nó ra. Khi rắn độc ra rồi, thì các vị mới yên tâm ngủ nghỉ, nếu rắn độc chưa ra, các vị cứ say mê ngủ nghỉ, thì điều đó giống như là kẻ không biết hổ thẹn; sự hổ thẹn là thứ trang sức đẹp nhất trong mọi thứ trang sức. Người biết hổ thẹn có khả năng chế ngự các pháp bất thiện. Thế cho nên, các vị đừng bao giờ bỏ quên và đánh mất tâm hổ thẹn; tâm hổ thẹn vừa là đức tính tốt, vừa là bùa hộ mạng có giá trị và hữu ích cho cuộc đời. Đánh mất tâm hổ thẹn là đánh mất tất cả pháp lành, người có tâm hổ thẹn thì có thể tạo ra nhiều công đức và pháp lành, và người không có tâm hổ thẹn là người thiếu tu, không thể tạo ra công đức và pháp lành trong cuộc sống.

Này các đệ tử, nếu ai đó làm xúc phạm thanh danh, danh dự, và uy tín của mình, thì các vị phải khéo léo theo dõi hơi thở chánh niệm bằng cách giữ gìn lời nói xây dựng, hòa hợp, và hòa giải, nhớ kiềm chế tự thân đừng để tâm mình nổi lên cơn giận dữ và bực tức, nó sẽ thiêu cháy hết rừng công đức và sự nghiệp tu tập và đạo Pháp của các vị. Người nào chế ngự tâm nóng giận, thì người đó có thể thực tập đức tính kham nhẫn; người nào thực tập đức tính kham nhẫn tốt đẹp, người đó không những được gọi là người trí, mà còn là người có sức mạnh vô song, như người uống nước cam lồ có khả năng giúp mình bớt khát nước. Người nào không thực tập đức tính kham nhẫn, lửa sân không những đốt cháy người đó, mà còn đốt cháy tất cả các công đức và pháp lành của họ, sự sân giận còn dữ hơn lửa cháy rừng, hãy cẩn thận chế ngự tâm sân giận. Trong tất cả các loại giặc cướp công đức, lửa sân giận là loại giặc nguy hiểm nhất trong đời.

Người thế gian sống, vẫn còn bon chen, tranh đua, hưởng thụ các dục lạc, thiếu phương pháp thực tập, và chế ngự tính khí nóng nảy của họ, nếu họ sân giận thì có thể tha thứ họ được. Tuy nhiên, các vị là người xuất gia tu học và hành đạo có phương pháp tu tập, có thể loại bỏ các dục vọng và thú vui trần tục ở đời, nếu không chuyển hóa được sân giận, thì các vị thật là kẻ đáng trách, cũng giống như bầu trời quang đãng, mà có sấm sét nổi lên, điều đó là điều không thích hợp. 

Này các đệ tử, khi trở thành người xuất sĩ, cạo bỏ râu tóc, các vị hãy tự xoa đầu mình và nhớ rằng: Không sử dụng mỹ phẩm và đồ trang sức thế gian, các vị khoác trên mình chiếc áo ca sa hoại sắc, tay bưng bình bát để đi khất thực, và dùng đồ ăn khất thực, thiền định, chánh niệm, và tỉnh thức để nuôi dưỡng và kiểm soát thân tâm. Khi tâm lý kiêu ngạo nổi lên, thì các vị ý thức nhận diện và chế ngự nó, bởi vì kiêu ngạo là một trong những tâm lý tiêu cực, những ai có tâm ý kiêu ngạo và ngã mạn, thì nó sẽ đốt cháy quý vị. Ý thức việc ấy, là người xuất gia nguyện sống cuộc đời an vui, tự tại, và giải thoát, thì các vị nên tu tập Phật Pháp để nhận diện và chuyển hóa chúng.

Này các đệ tử, các vị phải canh chừng tâm lý a dua và nịnh bợ, nó có thể làm chướng ngại cho việc tu tập, giải thoát, và các công tác Phật sự của mình. Để ngăn ngừa tâm lý a dua và nịnh bợ, các vị thường xuyên thực tập hạnh khiêm nhường, khiêm cung, chân chánh, và chính trực, đó là cách tốt nhất phát triển khả năng và trình độ tu học của mình, góp phần hoằng dương chánh Pháp ngay tại thế gian này.

Này các đệ tử, các vị nên biết một khi tâm tham muốn và nhu cầu lợi dưỡng càng nhiều, thì khổ não và dục vọng càng tăng, ngược lại, một khi tâm tham muốn và nhu cầu lợi dưỡng càng ít, thì khổ não và dục vọng càng giảm. Những ai có ít tham muốn thì họ không bị tâm dua nịnh chế ngự và chi phối, sống cuộc đời nhẹ nhàng và thanh thản, có thể hướng tới an vui và hạnh phúc ở hiện đời. Những ai thực tập hạnh biết đủ, thì họ có thể chế tác ra nhiều công đức và chế ngự tâm tham muốn và khổ não, thân tâm của họ không bị các giác quan và ngoại cảnh chi phối. Thực tập hạnh ít ham muốn và biết đủ, các vị có thể đạt được hạnh phúc ngay trong hiện đời.

Này các đệ tử, nếu muốn nhận diện và chuyển hóa khổ đau một cách hiệu quả, các vị phải thường xuyên học hạnh biết đủ; học hạnh biết đủ có khả năng giúp các vị sống cuộc đời nhẹ nhàng, thanh thản, và yên ổn. Người biết đủ thì nằm trên đất cảm thấy tự tại, an vui, và hạnh phúc, ngược lại, người không biết đủ dù nằm ở thiên đường, họ vẫn cảm thấy thiếu thốn, lo âu, và sầu muộn. Người biết đủ thì sống cuộc đời an lạc, nhẹ nhàng, tự tại, và thoải mái, không bị ngoại cảnh và vật chất lôi kéo, ngược lại, người không biết đủ thì bị tràn ngập mưu toan, lo lắng, phiền muộn, và khổ đau, luôn bị năm thứ dục lạc: tài, sắc, danh, thực, thùy chế ngự và lôi kéo. Do vậy, để sống cuộc đời tự do, an vui, và hạnh phúc, các vị nên cố gắng sống cuộc đời biết đủ và ít tham muốn.

Này các đệ tử, nếu muốn sống cuộc đời thanh thản và an lạc, thì các vị phải xa lánh những nơi ồn ào, náo nhiệt, và những hội chúng đông người. Những ai sống cuộc đời yên tĩnh bằng thiền tập thì họ sẽ được chư thiên và loài người tôn kính. Ở đơn độc một mình làm chủ được thân tâm bằng chánh niệm và tĩnh  giác, thì các vị có khả năng nhận diện và chuyển hóa khổ đau. Sống chung với những hội chúng đông người, và những chỗ ồn ào và náo nhiệt, thì các vị dễ dàng bị họ quấy nhiễu, như cây đại thọ mà có nhiều chim chóc tụ tập, thì chúng sẽ làm thiệt hại hư cành. Những ai tham đắm dục lạc ở đời thì họ sẽ bị thế gian ràng buộc và chi phối, như voi già yếu mà sa xuống bùn thì khó mong lên khỏi bùn lầy. Ý thức rõ việc ấy, để đoạn trừ phiền não, thì các vị nên tránh xa những hội chúng đông người, ồn ào, và náo nhiệt bằng cách sống những chỗ yên tĩnh và vắng lặng để làm chủ thân tâm trong chánh niệm và tĩnh giác.

Này các đệ tử, trong quá trình tu học, các vị cố gắng thực tập chánh tinh tấn để đạt được an vui và hạnh phúc ngay trong cuộc đời. Nếu không thực tập chánh tinh tấn, thì các vị sẽ gặp khó khăn và chướng ngại cho việc tu tập. Người tu tập có chánh tinh tấn, giống như giọt nước thường xuyên nhỏ xuống hòn đá lâu ngày, hòn đá có thể bị thủng, ngược lại, người tu tập không có chánh tinh tiến thường biếng nhác thì cũng giống như người cọ cây lấy lửa, cây chưa nóng, lửa chưa có, mà họ đã dừng, dù họ mong cầu có lửa, nhưng lửa không bao giờ tìm thấy. Do đó, các vị hãy siêng năng thực tập chánh tinh tấn để đem lại lợi lạc cho nhiều người.

Này các đệ tử, trên lộ trình tu học, những vị thiện tri thức và những vị hộ pháp đắc lực là những người tốt có khả năng giúp đỡ các vị thành tựu trong cuộc đời. Mặc dù nương vào họ để học hỏi những điều hay ý đẹp, và những kinh nghiệm sống tốt đẹp từ nơi họ, nhưng các vị đừng bao giờ bỏ quên thực tập chánh niệm hằng ngày; quên thực tập chánh niệm hằng ngày thì phiền não sẽ dễ dàng xâm nhập và chế ngự thân tâm, các vị sẽ đánh mất tất cả công đức và pháp lành. Ý thức được việc ấy, hằng ngày các vị thường xuyên thực tập chánh niệm và tĩnh giác để nhận diện và chuyển hóa thân tâm. Người thực tập chánh niệm một cách vững chãi thì không sợ năm thứ dục lạc: tài, sắc, danh, thực, thùy chế ngự và chi phối các vị, như người chiến sĩ vào trận mặt áo giáp che thân không sợ cung tên của kẻ thù. Đó là hạnh thực tập chánh niệm và tĩnh giác.

Này các đệ tử, nhờ thực tập và duy trì chánh niệm và tĩnh giác, nên các vị dễ dàng hướng tới thiền định và nhất tâm. Tinh tấn tu tập thiền định, các vị có thể làm chủ được tâm và thấu triệt trạng thái sinh diệt của tâm và chuyển biến của thế giới. Lúc này, những dao động, tạp niệm, và tán loạn của tâm sẽ được nhận diện và chuyển hóa, tuệ giác được chiếu vào. Người tu tập thiền định giỏi, trí tuệ phát triển nhanh như người giữ đê vững chắc thì nước trong đê dâng tràn. Đó là hạnh tu tập thiền định.

Này các đệ tử, khi tu tập thiền định được thuần thục, các phiền não được chuyển hóa và đoạn trừ, thì tâm giải thoát và tuệ giải thoát trở nên bừng sáng, tuệ giác liền sinh khởi. Tuệ giác được ví như chiếc thuyền vững chắc nhất vượt qua biển sinh tử, như ánh sáng mặt trời phá tan màn vô minh, như thần dược trị liệu cho kẻ bệnh tật, như lưỡi búa kim cương chặt đứt cây phiền não. Muốn có được tuệ giác chân thật, các vị cần phải trải qua quá trình tu tập “văn tuệ, tu tuệ, và tư tuệ” để đem lại lợi ích cho tự thân và cho tha nhân ngay trong cuộc sống hiện tại. Người có trí tuệ bao giờ cũng có chánh kiến, thấy rõ được sự thật của sự vật, sáng tỏ như ánh sáng ban ngày. Đó là hạnh trí tuệ.

Này các đệ tử, trong đời sống tu tập hằng ngày, nếu các vị sử dụng hý luận, thì tâm các vị sẽ bị tán loạn; người xuất gia sống cuộc đời hý luận sẽ bị thế gian chê cười và chỉ trích, không đưa đến trí tuệ và giải thoát. Từ bỏ hý luận, các vị sẽ hướng tâm đến tịch tĩnh, an vui, và hạnh phúc ngay trong hiện đời. Đó là hạnh không hý luận.

Này các đệ tử, hãy thường xuyên làm điều thiện, nói điều thiện, và nghĩ điều thiện để tạo thêm công đức lành, hãy thực tập chánh tinh tấn và kham nhẫn để tránh phóng dật và biếng nhát như tránh kẻ thù. Thể hiện lòng đại bi, đại trí, và đại dũng, Như Lai đã tuyên thuyết chánh Pháp rất thiết thực, hiện tại, và hữu ích để làm lợi lạc cho quần sinh. Do đó, các vị ở một nơi thích hợp của mình tinh tấn tu tập, hành trì chánh Pháp, quán chiếu sự sống, đừng để đời mình trôi đi vô ích, sau này ăn năn, hối hận đã muộn. Như Lai là Vị Lương Y biết bệnh từng người cho thuốc; uống hay không uống là không phải lỗi của Vị Lương Y. Như Lai là vị đạo Sư tâm linh chỉ đường tốt cho các vị; nếu quý vị nghe rồi mà không đi, thì đó không phải là lỗi của người chỉ đường.

“Này các đệ tử, đối với Bốn Chân Lý Thánh, nếu có chỗ nào chưa rõ thì các vị nên thưa hỏi, không nên ôm giữ trong lòng mà không nghi vấn, Như Lai sẽ giảng dạy cho các con những vấn đề chưa rõ.” Sau khi Đức Thế Tôn đã khuyên nhắc ba lần như vậy, chúng đệ tử đều im lặng, không một ai còn thắc mắc gì nữa. Lúc bấy giờ, Tôn giả A-nậu-lâu-đà (Anuruddha) bạch với Đức Phật rằng:

Bạch Đức Thế Tôn, dù mặt trăng có thể nóng lên, mặt trời có thể lạnh đi, nhưng Bốn Chân Lý Thánh mà Đức Phật đã tuyên thuyết thì không bao giờ có thể thay đổi được.

Bốn Chân Lý Thánh gồm có Khổ Thánh Đế, Khổ Tập Thánh Đế, Khổ Diệt Tập Thánh Đế, và Khổ Diệt Đạo Thánh Đế. 

Khổ Thánh Đế là thực trạng của khổ đau gồm có sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thù ghét mà gặp mặt nhau là khổ, thương yêu mà phải chia lìa là khổ, chấp vào năm nhóm thân tâm là khổ.

Khổ Tập Thánh Đế là nguyên nhân khổ đau gồm có tham, sân, si, mạn, nghi, vô minh, tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, và tà định.

Khổ Diệt Tập Thánh Đế là Niết-bàn, trạng thái an lạc, hạnh phúc tối thượng, chấm dứt mọi nguyên nhân của khổ đau.

Khổ Diệt Đạo Thánh Đế vừa là Trung Đạo xa lánh hai cực đoan: khổ hạnh ép xác và tham đắm dục lạc; vừa là Con Đường Cao Thượng bao gồm đạo đức, thiền định, và trí tuệ tương tức mật thiết với cái thấy chân chánh, tư duy chân chánh, lời nói chân chánh, hành động chân chánh, nghề nghiệp mưu sinh chân chánh, siêng năng chân chánh, nhớ nghĩ chân chánh, nhận diện, dừng lại, và chuyển hóa chân chánh. Con đường này rất thiết thực, hiện tại, và hiệu quả có khả năng đưa con người tới an vui và hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây ngay trong cuộc sống hiện tại.

Bạch Đức Thế Tôn, đối với Bốn Chân Lý Thánh, Như Lai đã giảng dạy xong, trong chúng đây, không còn một ai thắc mắc gì nữa.

Lúc bấy giờ, có những vị chưa có đủ duyên lành tu học Phật pháp nghe Đức Thế Tôn sắp nhập niết bàn, tâm của họ sinh sầu thảm. Có những vị mới vào đạo đầy đủ duyên lành nghe những lời dạy cốt yếu của Đức Phật, tâm của họ sinh hoan hỷ hiểu rõ được chánh Pháp, như người đi trong đêm tối, gặp được ánh sáng, thấy rõ đường đi lối về. Cũng có những vị đã giác ngộ chánh Pháp, đoạn trừ phiền não, xa lìa bể khổ, ngậm ngùi và thốt lên rằng: “Sao Đức Thế Tôn nhập diệt nhanh chóng như vậy.” Hiểu rõ được tâm ý của mọi người, vì lòng đại bi thương tưởng, Đức Phật khuyên bảo chúng đệ tử thêm rằng:

Này các đệ tử, chớ có sầu thảm, chớ có buồn rầu. Theo quy luật vô thường, dù sống ở đời hơn một kiếp đi chăng nữa, nhưng cuối cùng, Như Lai sẽ phải nhập Niết-bàn. Có hợp thì phải có tan, có tụ thì phải có tán. Kết hợp mà không tan rã, hội tụ mà không chia lìa, là điều không thể có được. Sau khi Như Lai nhập diệt, các vị hãy lấy chánh Pháp làm thầy tốt nhất cho các vị, hãy dùng chánh Pháp làm chỗ nương tựa tốt nhất cho các vị, hãy thực hành chánh Pháp để đem làm lợi ích cho tự thân và cho tha nhân ngay trong cuộc sống hiện tại. Nếu Như Lai sống lâu ở đời, các vị không thực hành chánh Pháp tốt đẹp, thì điều đó chẳng có đem lợi ích gì cho các vị cả. Tới giờ phút này, những chúng sinh có đủ duyên lành, Như Lai đã hóa độ tất cả. Những chúng sinh chưa đủ duyên lành, Như Lai đã tạo các duyên thuận lợi để cho họ được độ. Từ nay trở đi, các vị siêng năng thực hành chánh Pháp là xem Pháp thân của Như Lai đã tồn tại mãi mãi ở đời.  

Này các dệ tử, các vị nên quán chiếu rằng mọi hiện tượng và vật chất trên thế gian này đều là vô thường và chuyển biến, có kết hợp thì có tan rã, đừng lo buồn gì cả. Cuộc đời là như thế; các vị phải nỗ lực tinh tấn để đạt được giác ngộ và giải thoát, dùng ánh sáng tuệ giác để diệt trừ bóng tối vô minh. Muôn sự và muôn vật đều mong manh và không bền chắc. Sinh, già, bệnh, chết đều có mặt trong thân vật lý này. Có sinh là có diệt, có sống là có chết, đó là quy luật vô thường. Từ bỏ thân vật lý này như đặt gánh nặng xuống đất, các vị hãy giữ tâm yên lặng, bây giờ là lúc Như Lai nhập diệt. Các vị hãy tinh tấn thực hành chánh Pháp nhiều hơn nữa để đem lại lợi ích cho quần sanh; đây là những lời dạy tối hậu của Ta cho các người. 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

 

 

KINH TỤNG VỀ ĐỨC PHẬT LỊCH SỬ

Tôi biết như vầy. Một thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, một con người lịch sử bằng xương bằng thịt, đã từng sống trên trái đất này cách đây hơn hai mươi sáu thế kỷ qua. Người sinh ra dưới cây Vô Ưu, tại vườn Lâm Tỳ Ni, một phần của nước Nê-pan ngày nay, vào Ngày Rằm Trăng tròn tháng Vesak, tương đương với tháng Năm, năm 624 trước công nguyên. Kinh A Hàm ghi rằng:

“Một chúng sinh duy nhất, một con người phi thường, xuất hiện trên thế gian này, vì an lạc cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn và lợi ích cho chư thiên và nhân loại. Đó chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, người sáng lập ra đạo Phật, đạo tỉnh thức, từ bi, trí huệ, bình đẳng, và hòa bình cho pháp giới chúng sinh trên khắp hành tinh này.”

Với nguyện lực độ sanh, đức Phật ra đời rất là hy hữu. Theo lời kể của Tôn giả A Nan, đầu tiên Đức Phật ở cõi trời Đâu-suất đến hết thọ mạng, và sau đó, từ cõi trời Đâu-suất tới thế gian này, ngài nhập vào bào thai bên hông bên phải của thánh mẫu Ma-ya. Trong giờ phút đó, hào quang chiếu soi, rực rỡ lạ kỳ, sáng hơn nhật nguyệt, thế giới chuyển động chào đón Như Lai. Lúc Ngài nhập thai, có bốn chư thiên canh gác bốn phương, không để người nào gây tạo phiền nhiễu. Mẹ Ngài mang thai đúng tròn mười tháng. Từ lúc mang thai, bà có đức hạnh thanh cao, lòng từ rộng mở, không có dục tâm với bất kỳ ai.

Trong lúc mang thai, bà rất hoan hỷ, khoan khoái, an vui, sức khỏe tốt hơn, không chút bệnh tật. Bà cảm nhận rằng mình đang mang thánh thai nhi, như viên ngọc quý không chút tỳ vết, tuyệt hảo trên đời. Khi sinh ra Ngài, mẹ Ngài sinh đứng. Sinh chưa chạm đất thì có chư thiên nghênh tiếp đón Ngài, rồi nâng thân Ngài lên mẫu hậu, với lời tán dương: “Mẫu hậu đã hiến tặng cho thế giới này một Đức Phật sơ sinh hoàn hảo và an lành. Thân thể của Ngài lúc vừa sinh ra không bị ô nhiễm bởi nước ối, máu, hoàn toàn trong sạch, như ngọc ma-ni, trong sáng, đẹp màu. Từ trên hư không có hai dòng nước ấm và mát phun tắm cho Ngài và cho mẫu hậu.

Khi vừa mới sinh ra, Ngài tự đứng vững trên đôi chân mình. Hướng mặt về phía Bắc, bước đi bảy bước, với lọng trắng che, Ngài thốt lên lời: “Ta là tối thượng trên cõi đời này. Đây là kiếp sống cuối cùng của Ta. Ta không tái sinh vào cõi đời nữa. Tròn bảy ngày sau, mẹ Ta qua đời, liền tái sinh về cõi trời Đâu-suất.[1] 

Tiên Tri Đoán Tướng

 “Lúc bấy giờ, có vị đạo sĩ tên A-tư-đà, ngay giữa ban ngày, thấy các chư thiên ở cõi trời ba mươi ba hoan hỷ, tán thán, khởi tấu nhạc trời, du dương ca hát với các vũ điệu, và báo lời vui rằng: Tại vườn Lum-bi-ni, có vị Bồ-tát Thích-ca, không ai sánh bằng, vừa được giáng trần, hạnh phúc cho đời. Ngài là tối thượng, tối tôn, đứng đầu loài người. Về sau xuất gia, trở thành vị xuất Sĩ, ngài chuyển vận bánh xe chánh Pháp, rống tiếng pháp âm, giáo hóa cuộc đời. Nghe biết sự việc, ngài A-tư-đà liền đến hoàng gia Ca-tỳ-la-vệ, mong được yết kiến thái tử sơ sinh. Vừa thấy tôn nhan ba mươi hai tướng hảo, ông thốt lên rằng: “Thái tử Tất-đạt-đa là người tối thắng trong các loài hai chân.” Nói xong ông khóc, buồn cho tuổi thọ, nay đã già nua, không còn cơ hội để được chứng kiến thái tử giác ngộ. Ông khẳng định rằng, đến tuổi trưởng thành, thái tử xuất gia, chứng đắc giác ngộ toàn hảo ở đời, chuyển bánh xe pháp, thanh tịnh tối thắng, vì lòng từ bi, thương xót chúng sinh, giúp đời lợi lạc.”[2]

Không Màng Hưởng Thụ

Khi sống trong hoàng cung, thái tử được nuôi dưỡng vô cùng đặc biệt. Vua Tịnh Phạn, cha của thái tử xây cho thái tử ba ao sen xanh, sen hồng, và ao sen trắng. Những gì thái tử cần, đều được phục vụ tận tình và chu đáo. Các loại chiên-đàn, hương liệu cao cấp, và lụa Kasi quý, thái tử đều sử dụng. Cả ngày lẫn đêm luôn có lọng che cho thái tử khỏi nóng, lạnh, bụi bặm, và sương mù. Về các tiện nghi vật chất, phụ vương xây dựng cho thái tử ba lâu đài đẹp, sang trọng, và quý phái, một cho mùa đông, một cho mùa hạ, và một cho mùa mưa. Trong suốt bốn tháng mùa hè, lúc nào cũng có các nữ nhạc công xoay quanh thái tử để phục vụ ca, múa, xướng, hát. Dù sống trong cảnh giàu sang, sung sướng bậc nhất trên đời, cuối cùng, mọi người đều phải già, bệnh, và chết. Khi ý thức việc ấy, thái tử nghĩ rằng mình cũng phải già, bệnh, và chết, không thể tránh khỏi sự già nua, bệnh tật, và chết chóc. Lúc bấy giờ, kiêu mạn trong thái tử liền được đoạn trừ. Thái tử không còn tham đắm sắc thân giả tạm, từ bỏ các vật chất thế gian, quyết tâm đi xuất gia, tầm cầu giác ngộ, đem lại hòa bình, an vui, và hạnh phúc cho số đông ngay trong cuộc sống hiện tại.”[3]

Từ Bỏ, Xuất Gia

Thái tử nhận thức rõ rằng đời sống gia đình luôn bị ràng buộc, trong khi đời sống xuất gia rộng thoáng như bầu trời thênh thang. Do đó, ngài buông bỏ ngai vàng, vợ đẹp, con thơ, từ bỏ nghiệp phàm với nhiều chướng lụy. Ngài đến Vương xá, nước Ma-kiệt-đà sống đời khất sĩ. Đức vua Tần-bà-sa-la nhìn thấy thân hình thái tử cao, đẹp, rạng rỡ, thong dong, khoan thai, chánh niệm, liền cho sứ giả quan sát và theo dõi ngài, rồi về trình báo. Khi nghe câu chuyện, đức vua Tần-bà-sa-la vội lên cỗ xe, đến viếng thăm ngài. Ngài cho Vua biết nguyên nhân đi tu của ngài là do ngài không tha thiết hưởng thụ dục lạc. Ngài thấy rất rõ tham muốn hưởng thụ dục lạc là sự chướng ngại lớn cho việc tu tập, nên ngài đã tinh tấn từ bỏ dục lạc, quyết tâm xuất gia tầm cầu đạo pháp, sống vì an lạc và hạnh phúc cho nhiều người.[4] (O)

Tầm Sư Học Đạo

Ở tuổi thanh xuân, sức lực dồi dào, thân thể tráng kiện, mặc dù phụ vương thái tử Sĩ-đạt-đa không hề bằng lòng thái tử đi xuất gia, nhưng thái tử đã quyết tâm từ bỏ gia đình, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia tầm sư học đạo, đi tìm chân lý, hướng tới giác ngộ, chuyển hóa khổ đau. Lúc đầu, Sĩ-đạt-đa tìm đến gặp thầy A-la-ra Ka-la-ma và thưa thỉnh rằng: “Thưa thầy A-la-ra, thầy tu pháp gì, chứng đắc pháp gì, và dạy những gì?” Thầy A-la-ra trả lời rằng thầy đã chứng đắc thiền định thứ ba – vô sở hữu xứ. Với sự quyết tâm tu tập tinh tấn, chánh niệm, tĩnh giác, thiền định, trí tuệ, chẳng bao lâu sau, Sĩ-đạt-đa đã chứng đắc được như thầy A-la-ra, và xác nhận rằng: “Thiền vô sở hữu xứ thầy A-la-ra chứng đắc không có khả năng đưa đến an tịnh, thượng trí, giác ngộ, giải thoát, niết-bàn.” Xác nhận như vậy, Sĩ-đạt-đa đã mạnh dạn từ giã người thầy và tiếp tục lên đường tìm kiếm tâm linh.

Người thầy thứ hai Sĩ-đạt-đa đã gặp được là Ud-da-ka Ra-ma-put-ta, chứng đắc được thiền định thứ tư -“phi tưởng, phi phi tưởng xứ.” Với sự quyết tâm tu tập tinh tấn, chánh niệm, tĩnh giác, thiền định, trí tuệ, chẳng bao lâu sau, Sĩ-đạt-đa đã chứng đắc được như thầy Ud-da-ka. Nhận thấy tài năng xuất chúng của Bồ-tát Sĩ-đạt-đa, thầy Ud-da-ka đã hoan hỷ thỉnh mời Bồ-tát ở lại trú xứ cùng chăm sóc hội chúng.” Lúc bấy giờ, Bồ-tát nhận rõ  “Thiền phi tưởng, phi phi tưởng xứ” thầy Ud-da-ka chứng đắc không có khả năng đưa đến an tịnh, thượng trí, giác ngộ, giải thoát, niết-bàn. Xác nhận như vậy, Sĩ-đạt-đa đã mạnh dạn từ giã người thầy và tiếp tục lên đường tìm kiếm tâm linh.[5]

Sáu Năm Khổ Hạnh

Sau khi từ giã hai vị đạo sư Bà-la-môn, Bồ tát tu khổ hạnh trong suốt sáu năm, không ai sánh bằng. Vì ăn quá ít, tay chân của ngài gầy như cọng cỏ, cây leo khô héo. Bàn chân của ngài như móng lạc đà. Xương sống phô bày như một chuỗi banh. Xương sườn gầy mòn như rui nhà nát. Con mắt của ngài không còn long lanh, nằm sâu hun hút. Da đầu nhăn nheo, như trái mướp đắng ngả màu xám trắng, bị cơn gió nóng làm nó khô teo. Da bụng của ngài bám sát xương sống, đen đủi xấu xí. Khi đi vệ sinh, ngài đã té gục, úp mặt xuống đất. Lông tóc hư mục, rời khỏi thân thể. Ngài tự xoa bóp cơ thể của mình, toàn bộ chân, tay, thật là đau nhức. Nhận thức việc này, ngài quyết tâm từ bỏ lối tu khổ hạnh của Bà-la-môn. Ngài rời khỏi rừng Ưu-lâu-tầng-loa, đi thẳng về hướng Bồ-đề Đạo tràng, chuyên tâm thiền định, suốt bốn chín ngày đêm.”   

“Với tâm định tĩnh, Bồ tát nhập vào thiền định dưới bóng mát Bồ-đề, chuyển hóa ái dục, ly bất thiện pháp, thanh tịnh tâm ý, chứng thiền thứ nhất; một trạng thái hỷ lạc do lìa ái dục, có tầm, có tứ. Ngài chứng thiền thứ hai, trạng thái hỷ lạc do định sinh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ngài chứng thiền thứ ba; một trạng thái trụ xả hỷ lạc, chính niệm, tĩnh giác, cảm nhận hạnh phúc do biết buông xả. Ngài chứng thiền thứ tư; một trạng thái buông bỏ tất cả khái niệm, không còn khổ vui, thanh tịnh tuyệt đối trong ngài sinh khởi. Ngài nhận ra rằng đây là con đường đưa đến giác ngộ, an vui, và niết-bàn.  

Chứng Đạo Dưới Cội Bồ Đề

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không còn ô nhiễm nữa. Đức Phật hướng tâm đến trí tuệ lậu tận và biết như thật. “Đây là Khổ đau thuộc về thân và tâm; thân gồm có bốn loại: sanh, già, bệnh, chết; tâm gồm có bốn loại: thương yêu nhau phải chia lìa, oán ghét nhau phải gặp gỡ, mong muốn nhau cái gì đó không được nên tâm sinh ra thất vọng.” Ngài biết như thật: “Đây là nguyên nhân của khổ đau bao gồm tham ái, sân hận, si mê, tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạn, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, và các loại chấp thủ.” Ngài biết như thật: “Đây là Niết-bàn–an lạc tuyệt đối, hạnh phúc tối thượng–khổ đau và phiền não được chuyển hóa hoàn toàn.” Ngài biết như thật: “Đây là con đường chân chánh gồm có đạo đức, thiền định, và trí tuệ tương tức mật thiết với tầm nhìn chân chánh, tư duy chân chánh, lời nói chân chánh, hành vi chân chánh, nghề nghiệp chân chánh, tinh tấn chân chánh, chánh niệm chân chánh, và thiền định chân chánh.”

Ngài biết như thật: “Đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là hạnh phúc chân thật, và đây là con đường tu tập đưa tới kết thúc khổ đau”. Nhờ nhận thức như vậy, tâm ngài thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu. Ngài biết rất rõ: “Tái sanh đã tận, hạnh thánh đã thành, việc nên đã làm xong, không còn trở lại trạng thái sinh tử này nữa. (O)

Tuyên Bố Chân Lý

Lúc bấy giờ Phạm thiên Sa-ham-pa-ti tôn kính thưa với Đức Phật rằng: “Thưa ngài, xin ngài hoan hỷ trụ thế ở đời để thuyết pháp cho chúng sinh, họ rất may mắn nghe được diệu Pháp của ngài. Nhận lời thỉnh cầu của vị phạm thiên, Đức Phật quán chiếu và đưa ra những ví dụ sinh động và cụ thể như sau: “Có các chúng sanh có nhiều bụi phiền não trong tâm, có ít bụi phiền não trong tâm, và không có bụi phiền não trong tâm. Nhờ nghe và thực hành diệu pháp, dần dần họ tu tập, chuyển hóa nghiệp xấu, và hướng tới an vui và hạnh phúc ngay trong hiện đời.” Sau đó, Đức Phật suy nghĩ: “Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên?” Ta liền nghĩ đến thầy A-la-ra, nhưng thầy đã chết bảy ngày trước đó. Ta bèn nghĩ đến thầy Ud-da-ka, nhưng thầy vừa qua đời mới ngày hôm qua”.

Đức Phật liền nghĩ đến nhóm năm vị tu sĩ, từng là bạn đồng tu khổ hạnh với ngài, đang tu tập tại vườn Nai, thuộc Ba-la-nại. Ngài đã lên đường, gặp họ tại đây. Trong bài Kinh đầu tiên, Kinh Chuyển Pháp Luân, ngài đã khẳng định: “Này các đệ tử, những ai không đạt giác ngộ, không thông hiểu tứ thánh đế, nên họ trôi lăn trong vòng luân hồi. Khi tu tập thuần thục, đạt được giác ngộ, họ sẽ hiểu rõ bản chất khổ đau, nguyên nhân khổ đau, hạnh phúc chân thật, con đường chuyển hóa khổ đau.” 

Quả Vị Giác Ngộ Của Đức Phật

Đức Phật đã chứng quả giác ngộ hoàn hảo ở thế đời. Đây là kiếp sống cuối cùng của ngài. Từ nay trở đi, ngài không bị nghiệp lôi kéo. “Này các đệ tử, chỉ có một người giác ngộ viên mãn duy nhất xuất hiện ở trên cõi đời, không có người ngang bằng và tương tự. Ta là Như Lai, bậc chánh đẳng chánh giác, và là bậc tối thượng giữa các loài hai chân.”[6] “Sự kiện sau đây không thể xảy ra: trong một thế giới không có hai Đức Phật, xuất hiện cùng lúc. Trong một thế giới, chỉ có một Đức Phật chứng đắc giác ngộ viên mãn.”[7]

“Này các đệ tử, ví như trong ao sen, có các loại sen xanh, sen hồng, sen trắng sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn ngang mặt nước, và vượt ra khỏi mặt nước, song qua quá trình mọc và sống trong ao nước, tất cả các loại hoa sen đều lần lượt nở hoa tươi tốt. Cũng vậy, sanh ra trong đời, lớn lên trong đời, Ta chinh phục đời, không bị dòng đời chi phối. Ta là Đức Phật, bậc giác ngộ và tỉnh thức trọn vẹn. Ta trở thành người không bị tham, sân, si, và vô minh chế ngự. Ta sanh ra đời, vì lòng bi mẫn, an vui, và hạnh phúc cho số đông trên khắp hành tinh này.”[8] 

Trao Truyền Chánh Pháp và

Tiếp Nối Ngọn Đèn Chân Lý

Sau khi nhận lời thỉnh cầu của vị Phạm thiên Sahampati, Đức Phật lên đường giáo hóa A-nhã Kiều-trần-như, Vap-pa, Bạt-đề, Ma-ha-na-ma, A-ssa-ji, Ông Da-xá, gia đình Da-xá, và bạn bè Da-xá, tổng cộng 60 vị A-la-hán có mặt đầu tiên trên thế giới này. Ngài tiếp tục giáo hóa ba vị giáo chủ của đạo sĩ thờ lửa: Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp, Nan-đà Ca-Diếp, Già-da Ca-diếp, cùng một ngàn môn đệ của họ. Hầu hết các vị vua chúa, các nhà đạo học và thế học đương thời đều được Đức Phật hóa độ. Họ đều có hướng đi chân chánh, sáng ngời, và nương tựa vững chãi về ánh sáng giác ngộ và tỉnh thức của Phật đà.

Đức Phật và các vị đệ tử của Người sống chủ yếu nương vào thiền định và việc bố thí của người đàn việt để nuôi dưỡng thân tâm, nương vào môi trường thiên nhiên, vào sự tu chứng, an lạc, và hạnh phúc của tự thân để giáo hóa tha nhân. Sống đời sống không gia đình, quý Ngài dành nhiều thời gian tu tập và phục vụ chúng sanh, nương vào tình thầy trò, tình pháp lữ, tình đồng tu, tình hộ pháp và hoằng pháp để xây dựng Tăng thân và làm lợi lạc cho quần sanh. (O)

Trong số đó, những vị đệ tử đức hạnh, tài đức, và nổi tiếng nhất của Đức Phật được liệt kê dưới đây là:

Những vị NAM XUẤT SĨ đức hạnh

và nổi tiếng nhất gồm có:

Tôn giả Xá Lợi Phất – vị thầy có trí tuệ biện tài vô ngại, đối đáp và giải quyết mọi hoàn cảnh khéo léo, uyển chuyển, và nhanh lẹ đệ nhất.

Tôn giả Mục Kiền Liên – vị thầy có thần thông, tấm lòng hiếu thảo, cung thỉnh và cúng dường đại Tăng đệ nhất.

Tôn giả Ma Ha Ca Diếp – vị Tổ Sư gương mẫu có khả năng thu nhiếp đại chúng, lãnh đạo Tăng đoàn, tu hành khổ hạnh, và chủ tọa cho kỳ kiết tập Kinh điển lần thứ nhất.

Tôn giả Tu Bồ Đề – Vị thầy thâm nhập và quán chiếu tánh không đệ nhất.

Tôn giả Phú Lâu Na – Vị giảng Sư tài giỏi thuyết pháp đệ nhất.

Tôn giả Ca Chiên Diên – Vị luận Sư tài giỏi luận giải Phật pháp đệ nhất.

Tôn giả A Na Luật – vị thầy có cái nhìn không chướng ngại, thiên nhãn đệ nhẩt.

Tôn giả Ưu Ba Li – Vị luật Sư tài đức trùng tuyên Luật tạng, và hành trì giới Luật đệ nhất.

Tôn giả A Nan – vị thầy có khả năng nghe nhiều, tiếp thu, nhớ kỷ Phật pháp, trùng tuyên Kinh tạng, cũng là vị thị giả hảo tướng, trung thành, tận tâm, chu đáo, và khéo léo đệ nhất, và thành công thỉnh mời Đức Phật 3 lần chấp nhận nữ giới xuất gia, và thành lập Tăng đoàn tỳ kheo ni.

Tôn giả La Hầu La – vị thầy trẻ tuổi có khả năng học hạnh kham nhẫn, lắng nghe, và thực hành oai nghi, tế hạnh để chuyển hóa thân tâm đệ nhất. 

Những vị NỮ XUẤT SĨ đức hạnh

và nổi tiếng nhất:

Nữ Tôn giả Kiều-đàm-di Pa-jā-pa-ti Gotami – Vị có tuổi hạ cao nhất, hướng dẫn, sáng lập, lãnh đạo Ni Đoàn, và tu hạnh khổ hạnh đệ nhất.

Nữ Tôn giả Thái-hòa Khe-mā – Vị có trí tuệ đệ nhất.

Nữ Tôn giả Liên-hoa-sắc Up-pa-la-van-na – Vị chứng đắc thần thông đệ nhất.

Nữ Tôn giả Nan-dā – Vị thực tập thiền định đệ nhất.

Nữ Tôn giả Sa-ku-lā – Vị có thiên nhãn đệ nhất.

Nữ Tôn giả Dham-ma-din-nā – Vị giảng Sư thuyết pháp đệ nhất.

Nữ Tôn giả Bhad-dā Kac-cā-nā được biết như Ya-so-dha-rā – Vị chứng đắc thần thông đệ nhất.

Nữ Tôn giả Pa-ta-cā – Vị giỏi về Luật Tạng đệ nhất.

Nữ Tôn giả Ki-sa Go-ta-mi – Vị tu hành khổ hạnh đệ nhất.

Nữ Tôn giả Si-gā-la-ka-mā-tā – Vị có niềm tin chánh tín vững chắc đệ nhất. (O)

Những vị NAM CƯ SĨ đức hạnh

và nổi tiếng nhất gồm có:[9]

Trưởng giả Tu-đạt Cấp-cô-độc Su-dat-ta A-nā-tha-piṇ-ḍi-ka – Vị doanh nhân giàu lòng bố thí, cúng dường Tịnh Xá Kỳ Viên cho Đức Phật và Tăng Đoàn, và hộ trì Tam Bảo tối thắng.

Đức vua Tần-bà-sa-la Bim-bi-sā-ra – Vị thí chủ thuần thành phát tâm cúng dường tinh xá Trúc-lâm đầu tiên cho Đức Phật và Tăng Đoàn.

Đức vua Ba-tư-nặc Pa-se-na-di – Vị thí chủ đã can đảm ngăn cản, xóa bỏ tập tục giết hại sinh vật để tế thần Bà-la-môn, giải quyết, và làm sáng tỏ vụ án cô Sun-da-rì bị ngoại đạo giết để vu cáo Đức Phật và Tăng Đoàn. 

Lương y Jī-va-ka – Vị thầy thuốc giỏi giàu lòng từ bi tận tụy chăm sóc sức khỏe cho Đức Phật, Tăng Đoàn, và mọi người trong đó có Vua Tần-bà-sa-la Bim-bi-sā-ra, Vua A-xà-thế  A-jā-ta-sat-tu, v.vv…

Ông Cit-ta – Vị giảng sư cư sĩ thuyết pháp làu làu.

Ông Hat-tha-ka – Vị hành giả giỏi về nhiếp phục hội chúng và tinh chuyên thực tập Tứ Nhiếp Pháp gồm có bố thí, ái ngữ, lợi hành, và đồng sự.[10]

Ông Ug-ga-ta – Vị thí chủ có tâm thuần thành hộ trì Tăng Đoàn.

Ông Sū-ra-Am-baṭ-ṭha – Vị thí chủ có lòng tin chánh Pháp không thối chuyển.

Ông Ta-pu-sa và Ông Ba-li-ka – Hai vị thí chủ cúng dường bữa ăn đầu tiên cho Đức Phật sau khi giác ngộ vào tuần lễ thứ bảy, sau đó hai người xin quy y Phật và quy y pháp. Tăng đoàn chưa thành lập tại Bồ-đề-đạo-tràng. 

Những vị NỮ CƯ SĨ đức hạnh

và nổi tiếng nhất gồm có:[11]

Bà Su-jā-ta – Vị thí chủ cúng dường bát cháo sữa cho Đức Phật trước khi ngài giác ngộ, là người nữ đầu tiên quy y Đức Phật.

Bà Tỳ-xá-khư Vi-sā-kha – Vị thí chủ thuần thành trọn lòng cúng dường Lộc-mẫu Giảng Đường cho đức Phật và Tăng Đoàn, và hộ trì Tam Bảo tối thắng.

Bà Khu-jjut-ta-rā – Vị thí chủ có khả năng nghe nhiều và nhớ rõ Phật pháp.

Bà Ut-ta-rā – Vị thí chủ giỏi về việc tu tập thiền định.

Bà Sā-mā-va-tī – Vị có lòng từ bi rộng lớn.

Bà Kā-ti-yā-nī – Vị thí chủ có lòng tin chánh Pháp sâu sắc.

Bà Sup-pi-yā – Vị thí chủ có tấm lòng chăm sóc người bệnh tận tình và chu đáo.

Bà Na-ku-la-mā-tā – Vị thí chủ tận tâm thực tập nói lời ái ngữ tuyệt vời.

Bà Sup-pa-vā-sā – Vị thí chủ cúng dường các món ăn hảo hạng cho Đức Phật và Tăng Đoàn. (O)

Khi các đệ tử của Đức Phật càng ngày càng đông, Đức Phật động viên và khuyên bảo:

“Này các đệ tử, hãy siêng năng du hành. Vì an lạc cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn và lợi ích cho đời, tất cả các vị đừng đi chung một con đường. Hãy ra đi nhiều hướng khác nhau để hoằng dương chánh Pháp và cứu độ chúng sanh. Hãy đem sự tu tập, an lạc, và hạnh phúc của tự thân để giáo hóa tha nhân. Giáo pháp của Như Lai toàn hảo ở chặn đầu, toàn hảo ở chặn giữa, toàn hảo ở chặn cuối, cả ý nghĩa lẫn văn tự. Các vị hãy công bố đời sống thánh thiện và hòa bình cho số đông trên khắp hành tinh này. Như Lai sẽ đi về hướng U-ru-ve-la để truyền bá chân lý.”[12] 

“Này các đệ tử, xưa cũng như nay, Như Lai chỉ nói lên hai mục tiêu chính, đó là, nhận diện khổ đau và chuyển hóa khổ đau bằng cách áp dụng và thực hành Con Đường Bát Chánh ngay bây giờ và ở đây trong đời sống hiện tại. Này các đệ tử, Như Lai không tranh chấp cái gì với đời, chỉ có cuộc đời tranh chấp với Như Lai. Để thực hành tốt đẹp như thế, mỗi khi thuyết pháp, quý vị hãy nuôi dưỡng tâm từ bi và không nên tranh chấp với ai ở đời.”

Đức Phật Là Người Chỉ Đường

“Này các đệ tử, là bậc đạo sư, những gì Ta làm là vì từ mẫn, đem lại hòa bình và hạnh phúc cho pháp giới chúng sinh trên khắp hành tinh này. Đây là gốc cây, đây là nơi an tĩnh, hãy siêng năng thực tập thiền định, chớ có phóng dật, chớ có hối tiếc về sau. Đây lời Ta dạy. Hãy cố gắng thực hành. Này các đệ tử, truyền thống tâm linh do Như Lai thiết lập, vô cùng tốt đẹp, có giá trị lớn, các vị hãy tiếp tục duy trì.”

 “Đức Thế Tôn là bậc đã được giác ngộ, thuyết giảng phương cách để được giác ngộ. Thế Tôn điều phục, thuyết giảng phương pháp để được điều phục. Thế Tôn tịch tịnh, thuyết giảng phương pháp để đạt tịch tịnh. Thế Tôn vượt qua, thuyết giảng phương pháp để được vượt qua. Thế Tôn niết-bàn, thuyết pháp phương pháp đạt được niết-bàn.”

“Này các đệ tử, có một con đường Bát Chánh đưa đến niết-bàn; Như Lai có mặt với tư cách là bậc đạo sư chỉ đường. Những gì cần dạy, Ta đã chỉ dạy. Những gì cần làm, Ta đã làm xong. Trong hội chúng đây, có những người chứng đắc thánh quả, có số người đang và sẽ nỗ lực thực tập Phật pháp. Như Lai là bậc đạo Sư chỉ ra con đường đúng cho các vị.”[13]     

Về sau, Đức Phật giáo hóa rất nhiều hạng người khác nhau trong mọi tầng lớp xã hội, như các vua quan, quần thần, thương gia, tôi tớ, thậm chí những kẻ hốt phân, kẻ sát nhân và kỷ nữ. Giáo pháp và Tăng đoàn của Đức Thế Tôn đều có khả năng dung nhiếp những người đến từ các giai cấp, tôn giáo, màu da, chủng tộc…khác nhau. Những ai có đủ duyên lành tu, học, hiểu, thực hành, và ứng dụng Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày một cách chánh niệm và tĩnh giác, thì họ có thể đem lại an lạc và hạnh phúc đích thực cho tự thân và cho tha nhân ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại.

Các đệ tử của Đức Phật chủ yếu bao gồm hai Chúng lớn: xuất gia và tại gia. Cả hai chúng này đều hỗ trợ với nhau như hình với bóng làm yếu tố then chốt để cùng nhau đem đạo Phật đi vào cuộc đời và giúp đời thêm vui bớt khổ.

Hoằng dương chánh Pháp trong 45 năm, tất cả những gì Đức Phật dạy như nắm lá cây trong lòng bàn tay nhằm giúp con người nhận diện và chuyển hóa khổ đau, và giúp họ sống đời sống an vui và hạnh phúc ngay tại thế gian này (O).

Những Lời Di Chúc

“Này các đệ tử, bốn mươi lăm năm, rày đây mai đó, Ta đã truyền bá chánh Pháp này rồi, với hàng ngàn bài chân lý cao quý, cho nhiều hạng người khác nhau, từ vua đến dân, từ giai cấp cao đến giai cấp thấp, từ những người Phật tử và không phải Phật tử. Những ai có duyên lành học, hiểu, áp dụng, và thực hành Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày, thì họ có khả năng từ bỏ các nghiệp xấu ác, phát triển thiện tâm, thanh lọc tâm ý, hướng đến an vui, hạnh phúc, giải thoát, Niết-bàn ngay trong hiện đời.

Nay đã đến lúc thân thể ta bệnh. Vào ngày cuối cùng, Đức Phật đang ở tại rừng cây Sa-la, và dạy như sau: “Thân ta già bệnh, còm người phía trước, tay chân rã rời, giác quan yếu dần, da ta nhăn nheo, mắt ta không còn trong sáng như trước đây nữa. Này các đệ tử, sự tình là như vậy. Bản chất của già nằm trong tuổi trẻ. Bản chất của chết nằm trong sự sống.

 “Này các đệ tử, Như Lai giảng pháp, không hề phân biệt, không hề giấu giếm trong ta điều gì. Ta nghĩ rằng: “Đạo đức, thiền định, và trí tuệ sẽ là những bậc thầy toàn hảo và cũng là những lời dạy then chốt cho Tăng đoàn.” Ta không nghĩ rằng: Ta là lãnh đạo của cả Tăng đoàn. Tăng đoàn phải chịu hướng dẫn của ta. Ta đã công bố con đường giác ngộ. Nay ta đã già, tám mươi tuổi rồi, sắp đến lúc từ giả cuộc đời. Thân thể của ta như cỗ xe cũ, trong thời gian ngắn dần dần hoại diệt. Khi ấy tâm ta không còn tác ý đến tướng già nua, cảm giác lo lắng và sợ hãi trong ta sẽ không khởi lên. Ta chứng đắc và an trú tâm định vô tướng. Thân tâm ta vô cùng thoải mái, tự tại.”

Này các đệ tử,

Hãy tự mình thắp đuốc mà đi, 

Hãy tự mình nương tựa nơi chính mình,

Hãy tự mình nương tựa nơi hải đảo của tự thân,

Hãy tự mình làm hòn đảo để mình nương tựa,

Hãy tự mình nương tựa vào sự tu tập vững chãi của chính mình.

Không nương tựa vào bất cứ ai hoặc một vật gì khác.[14]

 

Hãy dùng Chánh Pháp làm ngọn đèn soi sáng cho chính mình,

Hãy dùng chánh Pháp làm hải đảo cho tự thân,

Hãy dùng chánh pháp làm nơi nương tựa tốt đẹp nhất cho chính mình,

Hãy dùng chánh Pháp để mình tu tập và để làm lợi ích cho nhiều người ngay trong đời sống hiện tại. 

Do đó, các vị quyết tâm nương tựa vào chánh Pháp, không nương tựa vào một tà pháp, hay bất cứ một vật gì khác.

 

Nương tựa vào chánh Pháp có nghĩa là nương tựa vào sự tu tập đạo đức, thiền định, trí tuệ, giải thoát, và giải thoát tri kiến của chính mình.

Không nương tựa vào tà pháp có nghĩa là không nương tựa vào trời, thần, quỷ, vật, ngoại đạo, tà giáo, thầy tà, và bạn xấu.

Trong Kinh Gopaka Moggallàna số 108, Trung Bộ III, trước khi nhập Niết Bàn, Đức Phật khuyên bảo các đệ tử:“Hỡi các đệ tử. Các pháp hữu vi đều vô thường và biến đổi. Các vị hãy tinh tấn tu học và thực hành Phật pháp nhiều hơn nữa, để đem lại an vui và hạnh phúc cho tự thân và cho tha nhân ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại. Đây là những lời giáo huấn tối hậu của ta cho các người.[15] (O)

Từ Giã Cõi Đời

“Khi nghe tin Phật đã nhập niết-bàn, dân tộc Malla tại Câu-thi-la, Tăng, Ni, Phật tử, tất cả mọi người tâm tư khổ não, đau đớn sầu muộn, kẻ thì khóc than với đầu tóc rối, người thì than thân, bổ nhoài dưới đất.

 Đứng trước cảnh tượng từ giã đạo sư, các vị tu sĩ chưa chứng thánh quả, họ đã không thể nào ngăn cản dòng lệ kính tiếc. Vì sao Thế Tôn nhập diệt quá sớm. Thế Tôn đi rồi, pháp nhãn biến mất khỏi cõi đời này. Thật là uổng tiếc. Đối với các vị đã chứng quả thánh, an trú chánh niệm, nội tĩnh suy tư: “Mọi thứ trên đời đều là vô thường. Không ai tránh được phút biệt ly này.”

“Không ai bảo ai, nhiều người gom góp hương, hoa, nhạc khí, lụa quý… đem về khu rừng Sa-la, cung kính, tưởng niệm, làm lễ hỏa thiêu kim thân Đức Phật suốt bảy ngày liền. Trước khi đưa tiễn kim thân Đức Phật đến giàn hỏa thiêu, mọi người cúng dường thân xá-lợi Phật với các điệu múa, lời ca thiền vị, tràng hoa, hương liệu. Kim thân của Phật được quấn lụa quý, gồm năm trăm lớp, đặt trong kim quan. Một giàn hỏa thiêu tẩm hương liệu quý nâng kim thân Phật. Hàng trăm tràng hoa được tôn trí đẹp. Tôn giả Ma Ha Ca-diếp và năm trăm vị đệ tử Tỳ-kheo vội vã đường về từ xứ Pava, đúng một tuần lễ, mới về tới nơi.”   

“Khi Tôn giả Ma Ha Ca-diếp và tất cả mọi người đảnh lễ Thế Tôn, lửa bắt đầu cháy. Hương thơm tỏa ngát, cảnh trời xao xát, tâm người buồn tênh. Sau lễ hỏa thiêu, kim thân của Phật để lại rất nhiều các viên xá-lợi, vô cùng quý giá. Xá-lợi của Phật chia làm tám phần, đựng trong tráp đá, dành cho tám Vua Phật tử thuần thành, xây tháp tôn thờ tại nước của họ, giúp cho bá tánh có dịp chiêm bái.

Trụ thế ở đời 80 năm, khoảng năm 544 trước công nguyên, lúc 80 tuổi, Đức Phật nhập diệt tĩnh lặng, nằm nghiêng mình về hông phải, chân trái duỗi thẳng trên chân phải, đầu quay về hướng Bắc dưới hai cây song thọ tại rừng Sa La tại quận Câu Thi Na, Ấn Độ ngày nay.

Để tỏ lòng tôn kính và tri ân sâu sắc đối với Đức Thế Tôn, các đệ tử của ngài tự mình phải sống đúng với chánh Pháp bằng cách phát nguyện không làm các việc ác, hãy làm các việc lành, giữ thân tâm thanh tịnh. Tất cả chúng ta phải là những món quà tu tập, hòa bình, an vui, và hạnh phúc đích thực để hiến tặng cho tự thân và cho tha nhân ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại.  

Khi tụng tới đây, Phật tử chúng con trọn lòng thành kính đảnh lễ Đức Phật, giáo pháp vi diệu, và Tăng đoàn an lạc.”[16]  

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

(3 lần, O)

 

KINH HẠNH PHÚC[17]

Đây là những điều tôi được nghe hồi Đức Thế Tôn còn cư trú gần thành Xá Vệ, tại tu viện Cấp Cô Độc, trong vườn Kỳ Đà. Hôm đó, trời đã vào khuya, có một vị thiên giả hiện xuống thăm Người, hào quang và vẻ đẹp của thiên giả làm sáng cả vườn cây. Sau khi đảnh lễ đức Thế Tôn, vị thiên giả xin tham vấn Người bằng một bài kệ:

Thiên và nhân thao thức
Muốn biết về phước đức
Để sống đời an lành
Xin Thế Tôn chỉ dạy.

Đây là lời dạy của Đức Thế Tôn. (O)

1)  Lánh xa kẻ xấu ác

luôn gần gũi người lành

Tôn kính bậc đáng kính

Là hạnh phúc lớn nhất.

2)  Biết chọn môi trường tốt

Để làm các việc lành

Đi trên đường chân thiện

Là hạnh phúc lớn nhất.

3)  Siêng học nghề nghiệp lành

Biết sống đời đức hạnh

Biết nói lời ái ngữ

Là hạnh phúc lớn nhất.

4)  Biết phụng dưỡng mẹ cha

Yêu thương gia đình mình

Biết làm nghề thích hợp

Là hạnh phúc lớn nhất.

5)  Sống vui vẻ bố thí,

Giúp quyến thuộc, thân bằng

Ứng xử không tỳ vết

Là hạnh phúc lớn nhất.

6)  Tránh không làm điều ác

Không say sưa nghiện ngập

Tinh cần làm việc lành

Là hạnh phúc lớn nhất.

7)  Biết khiêm cung lễ độ

Để học hỏi điều hay

Nhớ ơn và biết đủ

Là hạnh phúc lớn nhất.

8)  Biết kiên trì, phục thiện

Thân cận người tài đức

Siêng năng cùng tu học

Là hạnh phúc lớn nhất.

9)  Sống tinh cần, tỉnh thức

Học chân lý nhiệm mầu

Thưởng thức được Pháp vui

Là hạnh phúc lớn nhất.

10)  Sống trong nhân gian này

Tâm không hề lay chuyển

Dứt phiền não an nhiên,

Là hạnh phúc lớn nhất.

Ai thực hành như thế

Đi đâu cũng an toàn

Tới đâu cũng vững mạnh

Hạnh phúc cho tự thân, và

Hạnh phúc cho tha nhân. (O)

Ngày Đêm An Lành 

Nguyện ngày an lành đêm an lành.
Đêm ngày sáu thời thường an lành.
Tất cả các thời đều an lành.
Xin nguyện từ bi thường gia hộ.

Thế Tôn dung mạo như vầng nguyệt
Lại như mặt nhật phóng quang minh
Hào quang trí tuệ chiếu muôn phương
Hỷ Xả Từ Bi đều thấm nhuần.

Nam mô Phật Thích Ca Mâu Ni

(3 lần, O)

Thực Tập Điều Lành Hằng Ngày

Buổi sáng nói điều lành, buổi trưa nói điều lành, buổi tối nói điều lành, ta có một ngày vui.

Buổi sáng nghĩ điều lành, buổi trưa nghĩ điều lành, buổi tối nghĩ điều lành, ta có một ngày vui.

Buổi sáng làm điều lành, buổi trưa làm điều lành, buổi tối làm điều lành, ta có một ngày vui, ta có một năm vui, và ta có cuộc đời vui. (O)

Bốn Thệ Nguyện của Hành Giả

Chúng sanh không số lượng
Thệ nguyện đều độ khắp.
Phiền não không cùng tận
Thệ nguyện đều dứt sạch
Pháp tu không kể xiết.
Thệ nguyện đều thực hành. 
Phật đạo không gì hơn
Thệ nguyện đều viên thành.

Nam Mô Bồ Tát Quan Thế Âm

(3 lần, O)

 

KINH TỪ BI[18]

Những ai muốn đạt tới an lạc thường nên học hạnh thẳng thắn, khiêm cung, biết xử dụng ngôn ngữ từ ái. Họ là những người biết sống cuộc đời đơn giản và hạnh phúc, sống đời sống từ hòa, điềm đạm, ít ham muốn, không đua đòi chạy theo đám đông.

Những người ấy sẽ không làm bất cứ một điều gì mà các bậc thức giả có thể chê cười.

Đây là điều họ luôn luôn tâm niệm:

Nguyện cho mọi người và mọi loài được sống an toàn và hạnh phúc, tâm tư hiền hậu và thảnh thơi.

Nguyện cho tất cả các loài sinh vật trên trái đất đều được an lành, những loài yếu, loài mạnh, những loài cao, loài thấp, những loài lớn, loài nhỏ, những loài ta có thể nhìn thấy, những loài ta không thể nhìn thấy, những loài ở gần, những loài ở xa, những loài đã sinh, và những loài sắp sinh.

Nguyện cho đừng loài nào sát hại loài nào, đừng ai coi nhẹ tính mạng của ai, đừng vì ai giận hờn hoặc ác tâm mà mong cho ai bị đau khổ và khốn đốn.

Như một bà mẹ đang đem thân mạng của mình che chở cho đứa con duy nhất. Ta hãy đem lòng từ bi mà đối xử với tất cả mọi loài.

Ta hãy đem lòng từ bi không giới hạn của ta bao trùm tất cả thế gian và muôn loài, từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, lòng từ bi không bị bất cứ điều gì làm ngăn cách, tâm ta không còn vương vấn một chút oán hờn hoặc căm thù. Bất cứ lúc nào ta đi, đứng, nằm, ngồi, miễn là ta còn thức, ta nguyện duy trì trong ta chánh niệm từ bi. Nếp sống từ bi là nếp sống hòa bình và cao đẹp nhất.

Với tuệ giác chân chính, khi thực hành từ bi, hành giả không rơi vào tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, và tà định, chuyển hóa dần ham muốn, sống đời sống lành mạnh, đạt thành trí giác, và chắc chắn sẽ vượt qua khỏi sinh tử luân hồi. (O)

Ai khôn ngoan muốn cầu hạnh phúc

Và ước mong sống với an lành

Phải tài năng, ngay thẳng, công minh

Phải nghe lời dịu dàng khiêm tốn.

Ưa thanh bần, dễ dàng chịu đựng

Ít bận rộn, vui đời giản dị

Chế ngự giác quan và thận trọng

Không liều lĩnh, chẳng mê tục lụy

Không chạy theo điều quấy nhỏ nhoi

Mà thánh hiền có thể chê bai

Ðem an vui đến cho muôn loài

Cầu chúng sinh thảy đều an lạc

Không bỏ sót một hữu tình nào

Kẻ ốm yếu hoặc người khỏe mạnh

Giống to lớn hoặc loại dài cao

Cỡ trung bình, hoặc ngắn, nhỏ, thô

Có hình tướng hay không hình tướng

Ở gần ta hoặc ở nơi xa

Ðã sinh rồi hoặc sắp sinh ra

Cầu cho tất cả đều an lạc.

Với những ai bất luận ở đâu

Không lừa dối, chẳng nên khinh dễ

Lúc căm hờn hoặc khi giận dữ

Ðừng mưu toan gây khổ cho nhau

Như mẹ hiền thương yêu con một

Dám hy sinh bảo vệ cho con

Với muôn loài ân cần không khác

Lòng từ ái như biển như non

Rải tâm từ khắp cả vũ trụ

Mở rộng lòng thương không biên giới

Tầng trên, phía dưới, và khoảng giữa

Không vướng mắc, oán thù, ghét bỏ

Khi đi, khi đứng hoặc nằm ngồi

Những lúc tinh thần được tỉnh táo

Luôn phát triển dòng chính niệm nầy

Lối sống từ bi đẹp nhất đời

Ðừng để lạc vào nơi mê tối

Ðủ giới đức trí tuệ cao vời

Và dứt bỏ lòng tham dục lạc

Ðược như thế thoát khỏi luân hồi.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

(3 lần, O)

 

KINH ĐẠI BI BẰNG TIẾNG VIỆT

Thực Tập Rải Tâm Từ Hằng Ngày Đến Nhiều Phương

Buổi sáng thức dậy, con mỉm cười và nhận diện được rằng mắt con còn sáng và con có thể nhìn thấy rõ mọi sự vật chung quanh con, tai con nghe rõ mọi sự vật chung quanh con, mũi con thở vào và thở ra chánh niệm và tĩnh giác, lưỡi con nếm được pháp lạc, thân con cảm thấy khỏe, an bình, và nhẹ ra. Con hướng Tâm về phương Đông, phương Tây, phương Nam, phương Bắc, cả phương Trên và phương Dưới, con cầu nguyện cho các chúng sanh ở nơi đó được sống an bình, thương yêu, và hiểu biết lẫn nhau.

Khi con hiểu và thực tập đều đặn được như vậy ở mọi nơi và mọi lúc, tâm con được thấm nhuần các chất liệu từ bi và trí huệ, an vui và hạnh phúc cho tự thân và cho tha nhân ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại.

Cầu nguyện cho tất cả mọi người và mọi loài trên trái đất này đều được an vui và hạnh phúc và thoát khỏi mọi khổ đau.

Ngày Đêm An Lành

Nguyện ngày an lành đêm an lành.
Đêm ngày sáu thời thường an lành.
Tất cả các thời đều an lành.
Xin nguyện từ bi thường gia hộ.

Thế Tôn dung mạo như vầng nguyệt
Lại như mặt nhật phóng quang minh
Hào quang trí tuệ chiếu muôn phương
Hỷ Xả Từ Bi đều thấm nhuần.

       Nam mô Phật Thích Ca Mâu Ni (3 lần, O)

Bốn Thệ Nguyện của Hành Giả

Chúng sanh không số lượng
Thệ nguyện đều độ khắp.
Phiền não không cùng tận
Thệ nguyện đều dứt sạch
Pháp tu không kể xiết.
Thệ nguyện đều thực hành. 
Phật đạo không gì hơn
Thệ nguyện đều viên thành.

Nam Mô Bồ Tát Quan Thế Âm

(3 lần, O) 

 

KINH DẠY NGƯỜI CON PHẬT

Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Thế Tôn đang lưu trú ở Chùa Kỳ Viên do vị cư sĩ doanh nhân Cấp Cô Độc và thái tử Kỳ Đà phát tâm hiến cúng. Vào một ngày đẹp trời, vị cư sĩ doanh nhân này cùng với năm trăm vị cư sĩ thuần thành viếng thăm và đảnh lễ Tôn giả Xá Lợi Phất và các vị Khất Sĩ khác. Lúc bấy giờ, Tôn giả Xá Lợi Phất dùng nhiều lời dạy khéo léo, thuyết pháp cho các vị cư sĩ để đem lại niềm vui thực tập chánh Pháp, giúp cho họ khơi dậy lòng tin khát ngưỡng Tam Bảo.         

Sau đó, Tôn giả Xá Lợi Phất hướng dẫn tất cả mọi người đi đến tịnh thất của Đức  Phật, làm lễ dưới chân Người, rồi ngồi xuống một bên trong tư thế chánh niệm và tĩnh giác. Đức Thế Tôn ân cần dạy bảo cho họ những điều then chốt mà người con Phật[19] cần phải siêng năng thực tập hằng ngày để đem lại an vui và hạnh phúc cho tự thân và cho tha nhân ngay trong cuộc sống hiện tại. (O)

Những điều then chốt đó là năm điều đạo đứcbốn tâm quán niệm cao thượng. Nếu những người con Phật sống đời đạo hạnh thanh cao, thường siêng thực tập Phật pháp hằng ngày, thì ngay trong đời sống hiện tại, họ có thể đạt được an vui và hạnh phúc trọn vẹn, góp phần đem lại hòa bình đích thực cho số đông trên khắp hành tinh này. Đến lúc lâm chung, họ biết chắc rằng họ sẽ không đọa lạc vào các cảnh giới xấu ác: địa ngục, ngạ quỷ, và súc sanh. Khi hiểu và thực hành như thế, thì người con Phật có khả năng tu tập, chuyển hóa thân, tâm, đạt được dòng thánh quả ngay trong hiện đời, không sợ rơi vào các nẻo tối tăm.

Điều đạo đức thứ nhất: Người con Phật quyết tâm tránh xa mọi hình thức giết hại chúng sanh, kể cả các loài sinh vật. Hãy ý thức nuôi dưỡng và phát triển tâm từ bi bằng cách bảo hộ mạng sống của mình và của người khác. Không tự giết mình, không tự mình giết chúng sinh, không bảo người giết chúng sinh, không xúi người giết chúng sinh, và không thấy người giết chúng sinh mà mình vui mừng theo. Ý thức bảo vệ môi trường thiên nhiên, từ bỏ vũ khí, bạo động, tu tập từ bi, chuyển hóa sân giận và hận thù, biết ăn năn, sửa đổi, và hổ thẹn những việc làm sai trái. Nhờ hiểu và thực tập được như vậy, người con Phật có khả năng diệt tận các gốc rễ ý niệm sát hại, sống đời sống hòa bình, an vui, và hạnh phúc ngay tại thế gian này. (O)

Điều đạo đức thứ hai: Người con Phật quyết tâm tránh xa mọi hình thức trộm cắp, không lấy của không cho, tôn trọng tài sản của người khác, ưa thích bố thí, cứu người và giúp đời vượt qua hoàn cảnh nghèo khổ, tìm niềm vui trước khi bố thí, trong khi bố thí, và sau khi bố thí; bố thí không luyến tiếc và bố thí không mong cầu đền đáp. Nhờ hiểu và thực tập được như vậy, người con Phật có khả năng chuyển hóa và xả bỏ tâm tham lam, bỏn xẻn của mình, sống cuộc đời liêm khiết và vị tha. (O)  

Điều đạo đức thứ ba: Người con Phật quyết tâm tránh xa tà hạnh và ngoại tình, sống chung thủy hợp pháp với người hôn phối, tránh xa xâm phạm tình dục trẻ em, dành thời gian thích hợp chăm lo con cháu, không cho con cháu chơi các trò chơi game bạo động, giới hạn con cháu chơi các trò chơi điện tử trực tuyến, cho con cháu đi học, dành thời gian giúp con cháu làm bài tập ở nhà, dạy hiểu và thương cho con cháu. Nhờ hiểu và thực tập được như vậy, người con Phật có khả xây dựng hạnh phúc cho gia đình mình, và góp phần đem lại an vui cho học đường và cho cả xã hội. (O)

Điều đạo đức thứ tư: Người con Phật quyết tâm tránh xa nói dối – chỉ nói sự thật, không nói lường gạt và dối trá– chỉ nói lời tin cậy và tin tưởng, không nói chia rẽ và bất hòa– chỉ nói lời xây dựng và góp ý, không nói thô tục và xấu ác – chỉ nói lời lịch sự và nhã nhặn, không nói vô ích và vô nghĩa– chỉ nói lời có ích và có nghĩa, không nói miệt thị, chê bai, và trách móc –chỉ nói lời ca ngợi, tán dương, và đoàn kết, không nói chỉ trích, bực bội, căng thẳng, và sân giận – chỉ nói lời ái ngữ, dễ thương, hòa hợp, và hòa giải. Nhờ hiểu và thực tập được như vậy, người con Phật đáng được tin cậy, có khả năng đem lại uy tín và hòa bình cho nhiều người. (O)

Điều đạo đức thứ năm: Người con Phật quyết tâm tránh xa uống rượu, các chất say, hút thuốc lá, và cờ bạc, đặc biệt là các chất ma túy, quyết tâm từ bỏ các thói quen hưởng thụ sa đọa, như phim ảnh, báo chí, truyền thanh, truyền hình, không mua, bán, sản xuất, và tàng trữ vũ khí và các chất độc dược, không trồng cần sa và thuốc phiện, không làm môi giới và buôn bán người và động vật hoang dã quý hiếm.

Ý thức rằng việc tiêu thụ và sử dụng bốn loại thức ăn hằng ngày gồm có đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực, và thức thực trong chánh niệm và tĩnh giác, thì hành giả có thể xa lìa và buông bỏ các chất độc tố kia. Nhờ hiểu và thực tập được như vậy, người con Phật sống cuộc đời lành mạnh và sáng suốt, góp phần đem lại an vui và hạnh phúc đích thực cho tự thân và cho tha nhân ngay trong cuộc sống hiện tại. (O)

Năm điều đạo đức trên đây Như Lai đã giảng dạy, kế tiếp là bốn tâm quán niệm cao thượng:

Tâm quán niệm cao thượng thứ nhất: Người con Phật nên quán niệm rằng: “Đức Phật Thế Tôn; bậc Thầy lãnh đạo tâm linh an bình và cao thượng của chúng con; bậc Thầy xứng đáng nhất để được cúng dường; bậc Thầy hiểu biết và thương yêu; bậc Thầy có đầy đủ công hạnh và tuệ giác; bậc Thầy đã đạt được an vui và giải thoát toàn vẹn; bậc Thầy hiểu thấu thế gian; bậc Thầy có khả năng điều phục được con người; bậc Thầy của cả hai giới thiên và nhân; bậc Thầy đã giác ngộ và tỉnh thức tròn đầy;  bậc Thầy đáng được thế gian tôn sùng và quý kính nhất trên đời.” (O)

Tâm quán niệm cao thượng thứ hai: Người con Phật nên quán niệm rằng: “Giáo Pháp của Đức Thế Tôn, do chính Ngài khéo thuyết giảng, rất thiết thực hiện tại, có giá trị vượt thoát thời gian, có khả năng chuyển hóa thân tâm, có khả năng dập tắt các phiền não: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, v. v… Nương vào Phật pháp, người trí nào cũng có thể tự mình tu tập, thông đạt giáo pháp, đến để thấy, đến để nghe, đến để hiểu, đến để thực hành, và đến để thưởng thức những hoa trái an vui và hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại.” (O)

Tâm quán niệm cao thượng thứ ba: Người con Phật nên quán niệm rằng “Tăng thân của Đức Thế Tôn là Đoàn thể đang đi trên đường chân thiện, chân chánh, chính trực, tốt đẹp, và thích hợp; là đoàn thể đang hướng theo Phật pháp, tu tập Phật pháp, và sống đúng với tinh thần Phật pháp. Trong Đoàn thể thánh thiện này, có những vị đã và đang chứng quả thánh Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, và A-la-hán, gồm thâu bốn đôi và tám bậc thánh quả,[20] thành tựu các khía cạnh đạo đức, thiền định, trí tuệ, giải thoát, và giải thoát tri kiến. Đoàn thể này xứng đáng được nương tựa, phụng sự, quy kính, quý trọng, ngưỡng mộ, và cúng dường, là ruộng phước tốt đẹp cho thế gian gieo trồng.”[21] (O)

Tâm quán niệm cao thượng thứ tư: Người con Phật nên quán niệm rằng “Giới pháp của Đức Thế Tôn, Luật nghi và Chánh niệm Tăng thân đang tiếp nhận, thực tập, truyền bá, và hộ trì, là giới thân (sīla-kaya) nguyên vẹn, là giới thân không bao giờ bị sứt mẻ, là giới thân không bao giờ bị nhiễm ô, là giới thân không bao giờ bị tỳ vết, là giới thân không bao giờ bị hỗn tạp, là giới thân được người trí khen ngợi và ngưỡng mộ, là giới thân có công năng bảo vệ tự do, là giới thân đưa tới không sợ hãi, là giới thân đưa tới đạo đức, thiền định, trí tuệ, giải thoát, và giải thoát tri kiến, là giới thân đưa tới an vui và hạnh phúc đời đời.” (O)

Này các đệ tử, nhờ quán niệm và thực tập bốn tâm quán niệm cao thượng một cách trọn vẹn, nên người con Phật có khả năng đoạn tận các dục vọng, vô minh, bất hạnh, sầu muộn, và khổ đau, chuyển hóa các phiền não tham, sân, si, … vượt thoát ba cảnh giới xấu ác: địa ngục, ngạ quỷ, và súc sanh, đạt được hạnh phúc và niềm vui lớn, có khả năng xây dựng một cõi thiên đường hay cực lạc ngay tại thế gian này, và mở ra nhiều hướng đi sáng đẹp và vững chãi cho cuộc đời. (O)

Sau khi tuyên thuyết năm điều đạo đứcbốn tâm quán niệm cao thượng cho các vị đệ tử xong, Đức Thế Tôn ân cần tóm tắt một bài kệ thí dụ dễ hiểu như sau:

“Các con nên sáng suốt

Biết sợ cảnh xấu ác

Siêng thực tập chánh Pháp

Để chuyển hóa khổ đau.

Giữ năm điều đạo đức:

Không giết hại chúng sanh

Nuôi dưỡng tâm từ bi

Sống ít bịnh ít não

Tuổi thọ luôn tăng trưởng.

Không lấy của không cho

Xả bỏ tâm bỏn xẻn

Biết cúng dường, bố thí

Đem lợi mình lợi người.

Không tà hạnh ngoại tình

Không tình dục trẻ em

Chung thủy người hôn phối

Sống an vui hạnh phúc.

Không nói lời dối trá

Chỉ nói lời chân thật

Chánh tín và uy tín

Luôn được người tin cậy.

Quyết tâm không sử dụng

Rượu chè và ma túy

Cờ bạc và hút xách

Tâm sáng suốt thảnh thơi.

Các con thường quán niệm
Các đức tính của Phật,

Giáo Pháp và Tăng đoàn
Đạo đức và thiền định,

Trí tuệ và giải thoát.

Hoan hỷ trong bố thí

Hoan hỷ trong cúng dường

Khéo gieo trồng ruộng phước

Khéo vun trồng căn lành

Siêng thực tập chánh niệm

Giác ngộ và hạnh phúc

Có mặt ngay hiện tiền. (O)

Các đệ tử nghe rõ

Như Lai nêu thí dụ

Hãy quán sát đàn bò

Có con vàng, con trắng  
Có con đỏ, con đen

Màu nâu có đốm vàng 
Hoặc màu chim bồ câu. 
Dù chúng màu sắc gì 
Hoặc xuất xứ từ đâu 
Giá trị thật của chúng 
Là ở sức chuyên chở.

Những con nào mạnh khỏe

Được huấn luyện thuần thục
Kéo xe mạnh và nhanh  
Chuyên chở được nhiều chuyến 
Là những con hữu dụng.

Trong cõi nhân gian này

Nhiều hạng người khác nhau

Vua chúa hay thường dân

Tu sĩ hay cư sĩ

Người nữ hay người nam

Người trẻ hay người già

Những ai giữ gìn Giới 
sống trong sạch, đứng đắn

an lạc, và thảnh thơi

Trở thành người đạo đức

Trở thành người mẫu mực

Cho tự thân tha nhân. (O)

Cúng dường người như vậy 
sẽ được phúc đức lớn.

Như Lai không phân biệt
Giai cấp và nguồn gốc.

Kẻ thiếu tài, thiếu đức

Kẻ thiếu tuệ, thiếu tu 
Không soi sáng cho ai,

Không làm lợi cho ai. 
Cúng dường cho kẻ ấy 
không có phúc đức lớn.

Đệ tử của Như Lai

Luôn tu huệ, tu phước

Tâm hướng về Thế tôn

Siêng thực hành Phật pháp

Siêng ủng hộ Tăng đoàn

Vun trồng các căn lành

Gieo trồng ruộng phước đức

Đạt Niết-bàn, hạnh phúc

Ngay tại thế gian này.

Sau khi xả báo thân

Sinh về thế giới lành

Tiếp tục nguyện độ sanh

Ở cõi trời cõi người

Cùng tu tập chánh Pháp

Đem tự lợi lợi tha.”

Sau khi nghe Đức Phật giảng pháp xong, Tôn giả Xá Lợi Phất, các vị Khất sĩ, vị cư sĩ doanh nhân Cấp Cô Độc, và năm trăm vị cư sĩ cảm thấy hân hoan và phấn khởi, thấu hiểu lời Phật dạy, phát nguyện làm theo, đồng truyền bá Phật pháp để đem lại lợi lạc quần sanh.  

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (O)

 

NIỆM ÂN PHẬT BẢO

Đức Phật Thế Tôn; bậc Thầy lãnh đạo tâm linh an bình và cao thượng của chúng con; bậc Thầy xứng đáng nhất để được cúng dường; bậc Thầy hiểu biết và thương yêu; bậc Thầy có đầy đủ công hạnh và tuệ giác; bậc Thầy đã đạt được an vui và giải thoát toàn vẹn; bậc Thầy hiểu thấu thế gian; bậc Thầy có khả năng điều phục được con người; bậc Thầy của cả hai giới thiên và nhân; bậc Thầy đã giác ngộ và tỉnh thức tròn đầy;  bậc Thầy đáng được thế gian tôn sùng và quý kính nhất trên đời. (O)

NIỆM ÂN PHÁP BẢO

Pháp  Bảo của Đức Thế Tôn, do chính Ngài khéo thuyết giảng, rất thiết thực hiện tại, có giá trị vượt thoát thời gian, có khả năng chuyển hóa thân tâm, có khả năng dập tắt các phiền não: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, v. v… Nương vào Phật pháp, người trí nào cũng có thể tự mình tu tập, thông đạt giáo pháp, đến để thấy, đến để nghe, đến để hiểu, đến để học, đến để thực hành, và đến để thưởng thức những hoa trái an vui và giải thoát ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại. (O)

NIỆM ÂN TĂNG BẢO 

Tăng Bảo của Đức Thế Tôn là Đoàn thể đang đi trên đường chân thiện, chân chánh, chính trực, tốt đẹp, và thích hợp; là đoàn thể đang hướng theo Phật pháp, tu tập Phật pháp, và sống đúng với tinh thần Phật pháp. Trong Đoàn thể thánh thiện này, có những vị đã và đang chứng quả thánh Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, và A-la-hán, gồm thâu bốn đôi và tám bậc thánh quả,[22] thành tựu các khía cạnh đạo đức, thiền định, trí tuệ, giải thoát, và giải thoát tri kiến. Đoàn thể này xứng đáng được nương tựa, phụng sự, quy kính, quý trọng, ngưỡng mộ, và cúng dường, là ruộng phước đức tốt đẹp cho thế gian gieo trồng.[23] (O)

NIỆM ÂN GIỚI PHÁP

Giới pháp của Đức Thế Tôn, Luật nghi và Chánh niệm Tăng thân đang tiếp nhận, thực tập, truyền bá, và hộ trì, là giới thân (Sīla-kaya) nguyên vẹn, là giới thân không bao giờ bị sứt mẻ, là giới thân không bao giờ bị nhiễm ô, là giới thân không bao giờ bị tỳ vết, là giới thân không bao giờ bị hỗn tạp, là giới thân được người trí khen ngợi và ngưỡng mộ, là giới thân có công năng bảo vệ tự do, là giới thân đưa tới không sợ hãi, là giới thân đưa tới đạo đức, thiền định, trí huệ, giải thoát, và giải thoát tri kiến, là giới thân đưa tới an vui và hạnh phúc đời đời. (O)

Tâm Kinh Tuệ Giác Qua Bờ

Avalokita, khi quán chiếu sâu sắc
Với tuệ giác qua bờ,
Bỗng khám phá ra rằng:
Năm uẩn đều trống rỗng.
Giác ngộ được điều đó,
Bồ-tát vượt ra được
Mọi khổ đau ách nạn.
Này Śāriputra,
Hình hài này là không,
Không là hình hài này;
Hình hài chẳng khác không,
Không chẳng khác hình hài.
Điều này cũng đúng với
Cảm thọ và tri giác,
Tâm hành và nhận thức.
“Này Śāriputra,
Mọi hiện tượng đều không,
Không sinh cũng không diệt,
Không có cũng không không,
Không dơ cũng không sạch,
Không thêm cũng không bớt.

Cho nên trong cái không,
Năm uẩn đều không thể
Tự riêng mình có mặt.
Mười tám loại hiện tượng

Là sáu căn, sáu trần
Và sáu thức cũng thế;

Mười hai khoen nhân duyên
Và sự chấm dứt chúng
Cũng đều là như thế;

Khổ, tập, diệt và đạo
Tuệ giác và chứng đắc
Cũng đều là như thế. (O)
Khi một vị bồ-tát
Nương tuệ giác qua bờ
Không thấy có sở đắc
Nên tâm hết chướng ngại.
Vì tâm hết chướng ngại
Nên không còn sợ hãi,
Đập tan mọi vọng tưởng,
Đạt niết-bàn tuyệt hảo.
Chư Phật trong ba đời
Nương tuệ giác qua bờ
Đều có thể thành tựu
Quả chánh giác toàn vẹn.

Vậy nên phải biết rằng
Phép tuệ giác qua bờ
Là một linh chú lớn,
Là linh chú sáng nhất,
Là linh chú cao tột,
Không có linh chú nào
Có thể so sánh được.

Là tuệ giác chân thực

Có khả năng diệt trừ

Tất cả mọi khổ nạn.

Vậy ta hãy tuyên thuyết

Câu linh chú qua bờ:

Gate, gate, pāragate, pārasamgate, bodhi, svaha.” (3 lần, O)

“Vượt qua, vượt qua, khéo vượt qua, vượt qua rồi, đạt giác ngộ, vui lắm thay. ” (3 lần, O)

Quán Chiếu Thân, Tâm,Nghiệp

Tôi phải già, tôi không thể nào tránh khỏi cái già;

Tôi phải bệnh, tôi không thể nào tránh khỏi cái bệnh;

Tôi phải chết, tôi không thể nào tránh khỏi cái chết;

Tất cả những gì do thân nghiệp, khẩu nghiệp, và ý nghiệp của tôi tạo tác và gây ra, tôi không thể nào xa lìa và buông bỏ chúng, dù đó là nghiệp thiện, hay nghiệp bất thiện;

Ý thức rằng nghiệp thiện tôi tiếp tục duy trì và phát triển; nghiệp bất thiện tôi cố gắng nhận diện và chuyển hóa;

Tất cả những người thân, người thương, và những gì tôi trân quý hôm nay, một mai này tôi chắc chắn sẽ phải xa lìa và buông bỏ, tôi không thể nào tránh thoát khỏi sự xa lìa và buông bỏ ấy.

Tôi là kẻ thừa tự của những nghiệp quả, những cái duy nhất mà tôi có thể mang theo với tôi sau này.[24]  (O) 

Thân Tâm TTại

Thân này không phải là tôi,

Tôi không kẹt vào nơi thân ấy,

Tôi là sự sống thênh thang,

Chưa bao giờ từng sinh,

cũng chưa bao giờ từng diệt.

Nhìn kia! Biển rộng trời cao,

Muôn vàn tinh tú lao xao.

Tất cả biểu hiện cùng tôi

từ nguồn linh tâm thức,

từ muôn đời tôi vẫn tự do.

Tử sinh là cửa ngõ ra vào,

tử sinh là trò chơi cút bắt.

Hãy mỉm cười cùng tôi,

Hãy thở nhẹ cùng tôi,

Hãy niệm Phật cùng tôi,

Hãy thiền tập cùng tôi.[25] (O)

Kinh Dạy Người Biết Sống Một Mình[26]

Đức Thế Tôn dạy rằng

Đừng tìm về quá khứ,

Đừng lo lắng tương lai.

Quá khứ đã qua rồi,

Tương lai thì chưa tới.

Hãy quán chiếu sự sống

Trong giờ phút hiện tại

Kẻ thức giả an trú,

Vững chãi và thảnh thơi.

Hãy tinh tiến hôm nay,

Đừng đợi đến ngày mai

Sức khỏe sẽ yếu dần

Không thể nào thực tập

Cái chết đến bất ngờ,

Khó thể nào biết trước.

Người nào biết an trú

Đêm ngày trong chánh niệm,

Thì Mâu Ni gọi là:

Người biết sống một mình.

Nam Mô Phật Thích Ca Mâu Ni (O)

 

ĐỌC TỤNG NĂM ĐIỀU ĐẠO ĐỨC

Đôi Lời Khai Thị

Kính thưa Đại Chúng, xin quý vị lắng nghe. Hôm nay là ngày đọc tụng Năm Điều Đạo Đức. Trong tinh thần tu tập, hòa hợp, đoàn kết, an vui, và hạnh phúc, chúng ta có duyên lành tập hợp tại Đạo tràng này. Đó là việc làm ý nghĩa, thiết thực, và hữu ích cho tự thân và cho tha nhân ngay trong cuộc sống hiện tại. (O)

Năm Điều Đạo Đức

Năm Điều Đạo Đức, năm phương pháp thực tập chánh niệm hằng ngày, biểu hiện qua các lời dạy thiết thực và căn bản của Đức Phật, cụ thể là Bốn Chân Lý mầu nhiệm và con Đường Thánh có tám làn xem tương tức với nhau rất mật thiết, có khả năng giúp chúng ta thực tập hiểu biết và thương yêu, và có khả năng đưa tới trị liệu, chuyển hóa, và hạnh phúc cho bản thân và cho thế giới. Thực tập Năm Điều Đạo Đức này là để mang theo tuệ giác tương tức, tức là Chánh kiến, có khả năng tháo bỏ mọi cuồng tín, cố chấp, kỳ thị, sợ hãi, hận thù, và tuyệt vọng. Nếu chúng ta sống và thực tập theo Năm Điều Đạo Đức, thì chúng ta đã đi vào con đường mà các vị Bồ Tát đang đi. Năm Điều Đạo Đức này tiêu biểu cho cái thấy của đạo Phật về một nền đạo đức tâm linh toàn cầu. Biết rằng mình đang đi trên con đường của Đức Phật, chúng ta không còn lý do gì để lo lắng trong hiện tại và sợ hãi trong tương lai. (O)

Điều Đạo Đức Thứ Nhất: Tôn Trọng Sự Sống

Ý thức được những khổ đau do sự giết hại gây ra, con nguyện thực tập nuôi dưỡng tuệ giác tương tức và lòng từ bi, để có thể bảo vệ sự sống của mọi người, mọi loài, và môi trường sống. Con nguyện không giết hại, không để kẻ khác giết hại, và không tán thành bất cứ một hành động giết hại nào, trên thế giới, dù là trong tâm tưởng hay trong cách sống hằng ngày của con. Thấy được rằng tất cả những bạo động do sợ hãi, sân giận, hận thù, và tham vọng gây ra đều bắt nguồn từ cách tư duy lưỡng nguyên và kỳ thị; con nguyện học hỏi thái độ cởi mở, không kỳ thị, không cố chấp vào bất cứ một quan điểm, một chủ thuyết, hay một ý thức hệ nào để có thể chuyển hóa hạt giống bạo động, cuồng tín, giáo điều và thiếu bao dung trong con và trong thế giới.

Này quý Phật tử, trong thời gian qua, quý vị có cố gắng học hỏi và hành trì Điều Đạo Đức Thứ Nhất này không?

(Thầm niệm: Nam Mô Phật, dạ thưa có). (O)

Điều Đạo Đức Thứ Hai: Hạnh Phúc Chân Thực

Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp, áp bức, và bất công xã hội gây ra, con nguyện thực tập chia sẻ thì giờ, năng lực, và tài vật của con cho những kẻ thiếu thốn, trên cả ba phương diện tư duy, nói năng, và hành động trong đời sống hằng ngày. Con nguyện thực tập hoan hỷ trước khi bố thí, hoan hỷ trong khi bố thí, và hoan hỷ sau khi bố thí. Con nguyện không lấy của không cho, không lấy tài sản của người khác để làm của cải cho riêng mình, và không làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do chính con tạo ra. Con nguyện thực tập nhìn sâu để thấy được hạnh phúc và khổ đau của người kia có liên hệ mật thiết đến hạnh phúc và khổ đau của chính con. Con biết hạnh phúc chân thực không thể nào có được nếu không có hiểu biết và thương yêu, trong khi đó đi tìm hạnh phúc bằng cách chạy theo quyền lực, danh vọng, giàu sang, và sắc dục có thể đem lại nhiều hệ lụy và tuyệt vọng. Con ý thức được hạnh phúc chân thực phát sinh từ cách nhìn của con mà không phải từ bên ngoài đem tới. Thực tập tri túc giúp con sống hạnh phúc được ngay trong giây phút hiện tại để nhận diện những điều kiện hạnh phúc mà con đã có. Con nguyện thực tập Chánh mạng để có thể làm giảm thiểu khổ đau của mọi người, mọi loài và để chuyển ngược lại quá trình hâm nóng địa cầu.

Này quý Phật tử, trong thời gian qua, quý vị có cố gắng học hỏi và hành trì Điều Đạo Đức Thứ Hai này không?

(Thầm niệm: Nam Mô Phật, dạ thưa có). (O)

Điều Đạo Đức Thứ Ba: Tình Thương Đích Thực

Ý thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra, con nguyện thực tập theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo hộ tiết hạnh và sự an toàn của mọi người, mọi gia đình, và xã hội. Con biết tình dục và tình yêu là hai cái khác nhau. Các mối liên hệ của tình dục là do sự thèm khát gây nên, chúng luôn mang tới những hệ lụy và đổ vỡ cho con và cho kẻ khác. Con nguyện không ăn nằm với bất cứ ai nếu không có tình yêu đích thực và những cam kết chính thức dài lâu. Con sẽ làm mọi cách để có thể bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa. Hãy biết rằng thân với tâm là một, con nguyện học hỏi những phương pháp thích ứng để chăm sóc năng lượng tình dục trong con, và nguyện nuôi lớn các đức tính Từ, Bi, Hỷ và Xả, tức là những yếu tố căn bản của một tình yêu thương đích thực, làm tăng trưởng hạnh phúc của con và của người khác. Con biết thực tập Tứ vô lượng tâm, con sẽ được tiếp tục đẹp đẽ và hạnh phúc trong tương lai.

Này quý Phật tử, trong thời gian qua, quý vị có cố gắng học hỏi và hành trì Điều Đạo Đức Thứ Ba này không?

(Thầm niệm: Nam Mô Phật, dạ thưa có). (O)

Điều Đạo Đức Thứ Tư: Ái Ngữ và Lắng Nghe

Ý thức được những khổ đau do những lời nói thiếu chánh niệm và thiếu khả năng lắng nghe gây ra, con nguyện học hạnh ái ngữ và lắng nghe để có thể hiến tặng niềm vui cho người và làm vơi bớt nỗi khổ đau của người. Con nguyện tìm cách đem lại an bình và hòa giải giữa mọi người, giữa các quốc gia, chủng tộc, và tôn giáo. Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hay khổ đau cho người, con nguyện học nói những lời có khả năng gây thêm niềm tự tin, an vui, và hy vọng, những lời chân thực có giá trị xây dựng hiểu biết và hòa giải. Con nguyện không nói gì cả khi biết cơn giận tức đang có mặt trong con. Con nguyện tập thở và tập đi trong chánh niệm để nhìn sâu vào gốc rễ của cơn giận, để nhận diện những tri giác sai lầm trong con và tìm cách hiểu được những khổ đau trong con và trong người mà con đang giận. Con nguyện nói sự thực và lắng nghe sâu để có thể giúp người kia thay đổi và vượt thoát những khó khăn đang gặp phải. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không nói những điều có thể tạo nên sự bất hòa trong gia đình và trong đoàn thể. Con nguyện thực tập Chánh tinh tấn để nuôi dưỡng khả năng hiểu biết, thương yêu, hạnh phúc và không kỳ thị nơi con, để làm yếu dần những hạt giống bạo động, hận thù và sợ hãi mà con đang có trong chiều sâu tâm thức.

Này quý Phật tử, trong thời gian qua, quý vị có cố gắng học hỏi và hành trì Điều Đạo Đức Thứ Tư này không?

(Thầm niệm: Nam Mô Phật, dạ thưa có). (O)

Điều Đạo Đức Thứ Năm: Nuôi Dưỡng và Trị Liệu

Ý thức được những khổ đau do sự tiêu thụ thiếu chánh niệm gây nên, con nguyện học hỏi cách chuyển hóa thân tâm, xây dựng sức khỏe cơ thể và tâm trí bằng cách thực tập chánh niệm trong việc ăn uống và tiêu thụ. Con nguyện nhìn sâu vào bốn loại thực phẩm là đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực, và thức thực để tránh tiêu thụ những thực phẩm độc hại. Con nguyện không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc tiêu thụ bất cứ một sản phầm nào có độc tố, trong đó có các mạng lưới bạo động và đồi trụy như phim ảnh, truyền thanh, truyền hình, sách báo, bài bạc, và chuyện trò. Con nguyện thường xuyên thực tập trở về với giây phút hiện tại để tiếp xúc với những gì tươi mát, có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu trong con và xung quanh con mà không để cho tiếc nuối và ưu sầu kéo con trở về quá khứ và không để cho lo lắng và sợ hãi kéo con đi về tương lai. Con nguyện tiêu thụ, nuôi dưỡng, và phát triển các hạt giống tích cực trong con và trong kẻ khác. Con nguyện nhìn sâu vào tự tính tương quan tương duyên của vạn vật để học cách tiêu thụ như thế nào mà duy trì được an vui trong thân tâm con, trong thân tâm của xã hội, và trong môi trường sự sống. 

Này quý Phật tử, trong thời gian qua, quý vị có cố gắng học hỏi và hành trì Điều Đạo Đức Thứ Năm này không?

(Thầm niệm: Nam Mô Phật, dạ thưa có). (O)

Năm Điều Đạo Đức trên đây chúng ta đã nghe và đã tuyên đọc là nền tảng đạo đức và hạnh phúc gia đình và là chất liệu của chí nguyện lợi tha.

Để thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Đức Phật, mỗi nữa tháng ít nhất một lần, chúng ta phải thường xuyên đọc tụng và áp dụng Năm Điều Đạo Đức vào trong đời sống hằng ngày. Thời gian thấm thoát như tên bay. Chúng ta hãy tinh tiến tu tập để đem lại an vui và hạnh phúc cho tự thân và cho tha nhân ngay trong cuộc sống hiện tại.

Đại Chúng đồng thanh phát nguyện tinh tấn:

“Chúng con cố gắng thực hành Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày.” (3 lần)

Chủ Lễ xướng lên: Đệ tử chúng con chí tâm kính lễ Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo thường trú trong ba đời và mười phương (O, 1 lạy).

Tâm Kinh Tuệ Giác Qua Bờ

Avalokita, khi quán chiếu sâu sắc
Với tuệ giác qua bờ,
Bỗng khám phá ra rằng:
Năm uẩn đều trống rỗng.
Giác ngộ được điều đó,
Bồ-tát vượt ra được
Mọi khổ đau ách nạn.
Này Śāriputra,
Hình hài này là không,
Không là hình hài này;
Hình hài chẳng khác không,
Không chẳng khác hình hài.
Điều này cũng đúng với
Cảm thọ và tri giác,
Tâm hành và nhận thức.
“Này Śāriputra,
Mọi hiện tượng đều không,
Không sinh cũng không diệt,
Không có cũng không không,
Không dơ cũng không sạch,
Không thêm cũng không bớt.

Cho nên trong cái không,
Năm uẩn đều không thể
Tự riêng mình có mặt.
Mười tám loại hiện tượng

Là sáu căn, sáu trần
Và sáu thức cũng thế;

Mười hai khoen nhân duyên
Và sự chấm dứt chúng
Cũng đều là như thế;

Khổ, tập, diệt và đạo
Tuệ giác và chứng đắc
Cũng đều là như thế. (O)
Khi một vị bồ-tát
Nương tuệ giác qua bờ
Không thấy có sở đắc
Nên tâm hết chướng ngại.
Vì tâm hết chướng ngại
Nên không còn sợ hãi,
Đập tan mọi vọng tưởng,
Đạt niết-bàn tuyệt hảo.
Chư Phật trong ba đời
Nương tuệ giác qua bờ
Đều có thể thành tựu
Quả chánh giác toàn vẹn.

Vậy nên phải biết rằng
Phép tuệ giác qua bờ
Là một linh chú lớn,
Là linh chú sáng nhất,
Là linh chú cao tột,
Không có linh chú nào
Có thể so sánh được.

Là tuệ giác chân thực

Có khả năng diệt trừ

Tất cả mọi khổ nạn.

Vậy ta hãy tuyên thuyết

Câu linh chú qua bờ:

Gate, gate, pāragate, pārasamgate, bodhi, svaha.” (3 lần, O)

“Vượt qua, vượt qua, khéo vượt qua, vượt qua rồi, đạt giác ngộ, vui lắm thay.” (3 lần, O)

 

TƯỚI TẨM HẠT GIỐNG TỐT

Con có cha, có mẹ
Cha mẹ có trong con
Nhìn mẹ cha, con thấy
Có con trong cha mẹ.
Con có Phật, có Tổ
Phật, Tổ có trong con
Nhìn Phật Tổ, con thấy
Có con trong Phật, Tổ.
Con là sự tiếp nối
Của cha mẹ tổ tiên
Con xin nguyền gìn giữ
Và tiếp tục nuôi dưỡng
Những hạt giống an lành
Tài năng và hạnh phúc
Mà con đã tiếp nhận
Từ cha mẹ tổ tiên
Con cũng xin nhận diện
Những hạt giống tiêu cực
Sợ hãi và khổ đau
Ðể dần dần chuyển hóa.
Con là sự tiếp nối
Của Phật và Tổ Sư
Những hạt giống Từ Bi
Hiểu Biết và Thảnh Thơi
Ðã trao truyền cho con
Con xin nguyền gìn giữ
Tưới tẩm và nuôi lớn.
Con xin nguyền tiếp nối
Sự nghiệp Phật và Tổ
Và cố công thực hiện
Những gì Phật và Tổ
Ðang trông đợi nơi con.
Trong cuộc sống hàng ngày
Con xin nguyền gieo rắc
Hạt giống của từ bi
Trong chính bản thân con
Và trong lòng kẻ khác
Con nguyện không tưới tẩm
Những hạt giống thèm khát
Bạo động và hận thù
Nơi con và nơi người.
Con biết nếu thực tập
Ðúng theo lời Phật dạy
Trong vòng bảy hôm thôi
Là con đã có thể
Thay đổi được tình trạng
Tái lập được truyền thông
Làm nở được nụ cười
Chuyển hóa được niềm đau
Làm lớn lên hạnh phúc.
Con xin Đức Thế Tôn
Chứng minh cho lòng con
Hợp nhất cả thân tâm
Con cúi đầu kính lạy. (O) 

Quy Nguyện

Trầm hương xông ngát điện
Sen nở Phật hiện thân
Pháp giới thành thanh tịnh
Chúng sinh lắng nghiệp trần.

Ðệ tử tâm thành
Hướng về Tam Bảo
Phật là thầy chỉ đạo
Bậc tỉnh thức vẹn toàn
Tướng tốt đoan trang
Trí và bi viên mãn.
Pháp là con đường sáng
Dẫn người thoát cõi mê
Ðưa con trở về
Sống cuộc đời tỉnh thức.
Tăng là đoàn thể đẹp
Cùng đi trên đường vui
Tu tập giải thoát
Làm an lạc cuộc đời.

Ðệ tử nương nhờ Tam Bảo
Trên con đường học đạo
Biết Tam Bảo của tự tâm
Nguyện tu học chuyên cần
Làm sáng lòng ba viên ngọc quý.

Nguyện theo hơi thở
Nở nụ cười tươi
Nguyện học nhìn cuộc đời
Bằng con mắt quán chiếu
Nguyện xin tìm hiểu
Nỗi khổ của mọi loài
Tập từ bi
Hành hỷ xả
Sáng cho người thêm niềm vui
Chiều giúp người bớt khổ
Ðệ tử nguyện sống cuộc đời thiểu dục
Nếp sống lành mạnh an hòa
Cho thân thể kiện khương
Nguyện rũ bỏ âu lo
Học tha thứ bao dung
Cho tâm tư nhẹ nhõm

Ðệ tử xin nguyện ơn sâu đền báo
Ơn cha mẹ ơn thầy
Ơn bè bạn chúng sinh
Nguyện tu học tinh chuyên
Cho cây bi trí nở hoa
Mong một ngày kia
Có khả năng cứu độ mọi loài
Vượt ra ngoài cõi khổ.

Xin nguyện Phật, Pháp, Tăng chứng minh
Gia hộ cho đệ tử chúng con
Viên thành đại nguyện. (O)

Bài Tụng Hạnh Phúc

Chúng con được ngồi đây
Trong phút giây hiện tại
Bao bọc bởi tăng thân
Thấy mình thật may mắn:
Sinh ra được làm người
Con sớm gặp chánh Pháp
Hạt Bồ Đề tưới tẩm
Lại có duyên được sống
Hòa hợp trong tăng thân.

Năng lượng của tăng đoàn
Giới luật và uy nghi
Đang bảo hộ cho con
Không để gây lầm lỗi
Không bị nghiệp xấu đẩy
Đi về nẻo tối tăm
Lại được cùng bạn hiền
Đi trên đường chân thiện
Có ánh sáng chiếu soi
Của Phật và Bồ Tát.

Tuy có mặt trong con
Những hạt giống khổ đau
Phiền não và tập khí
Nhưng chánh niệm hiện tiền
Vẫn thường luôn biểu hiện
Giúp cho con tiếp xúc
Với những gì mầu nhiệm
Có mặt trong tự thân
Và có mặt quanh con.

Sáu căn còn đầy đủ
Mắt thấy được trời xanh
Tai nghe tiếng chim hót
Mũi ngửi thấy hương trầm
Lưỡi nếm được pháp vị
Thế ngồi con vững chãi
Ý hợp nhất với thân
Nếu không có Thế Tôn
Nếu không có Diệu Pháp
Nếu không có Tăng Đoàn
Làm sao con may mắn
Được pháp lạc hôm nay?

Công phu tu tập này
Con cũng xin hành trì
Cho gia đình, dòng họ
Cho thế hệ tương lai
Và cho cả xã hội.
Niềm an lạc của con
Là vốn liếng tu tập
Con xin nguyền vun bón
Tưới tẩm và nuôi dưỡng
Bằng chánh niệm hàng ngày.

Trong xã hội của con
Bao nhiêu người đau khổ
Chìm đắm trong năm dục
Ganh ghét và hận thù.
Thấy được những cảnh ấy
Con quyết tâm hành trì
Điều phục những tâm hành
Tham đắm và giận ghét
Tập khả năng lắng nghe
Và sử dụng ái ngữ
Để thiết lập truyền thông
Tạo nên sự hiểu biết,
Chấp nhận và thương yêu.

Như đức Bồ Tát kia
Con nguyện xin tập nhìn
Mọi người chung quanh con
Bằng con mắt từ bi
Bằng tâm tình hiểu biết
Con xin tập lắng nghe
Bằng lỗ tai xót thương
Bằng tấm lòng lân mẫn
Nhìn và nghe như thế
Là hạnh của Bồ Tát
Có thể làm vơi nhẹ
Khổ đau trong lòng người
Đem lại niềm an lạc
Về cho cả hai phía.
Chúng con ý thức rằng
Chính phiền não si mê
Làm cho thế giới này 
Trở thành nơi hỏa ngục.
Nếu tu tập chuyển hóa
Chế tác được hiểu biết
Cảm thông và thương yêu
Chúng con sẽ tạo được
Tịnh Độ ngay nơi này.
Dù cuộc đời vô thường
Dù sinh lão bệnh tử
Con có đường đi rồi
Không còn lo sợ nữa.

Hạnh phúc thay được sống
Trong tăng đoàn Thế Tôn
Được tu giới, định, tuệ
Sống vững chãi thảnh thơi
Trong từng giây từng phút
Của cuộc sống hàng ngày,
Và trực tiếp tham gia
Vào sự nghiệp độ sinh
Của Phật và Bồ Tát.

Giờ phút này quý báu
Niềm biết ơn tràn dâng
Xin lạy Đức Thế Tôn
Chứng minh và nhiếp thọ. (O)

 

TỤNG KINH THIỆN SINH

Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật cư trú ở tu viện Trúc Lâm, cùng với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo, đắp y bưng bát đi vào thành Vương Xá khất thực. Khi thấy chàng Thiện Sinh,[27] con trai của vị trưởng giả, cứ mỗi buổi sáng, vâng theo lời cha dặn, tắm rửa sạch sẽ, ăn mặt chỉnh tề, chấp tay lễ lạy phương Đông, phương Tây, phương Nam, phương Bắc, phương Trên, và phương Dưới, Đức Phật ân cần dạy bảo Thiện Sinh về các ý nghĩa của việc lễ bái sáu phương như sau:

1) Phương Đông tượng trưng cho cha mẹ và con cái

Bổn Phận Con Cái

Này Thiện Sinh, đối với cha mẹ, người con có năm bổn phận. Một là cung phụng các nhu cầu vật chất và tinh thần cần thiết cho cha mẹ. Hai là giúp làm các việc khó nhọc cho cha mẹ. Ba là bảo vệ danh giá dòng họ và truyền thống gia đình. Bốn là bảo vệ tài sản thừa tự. Năm là có trách nhiệm lo tang lễ đúng pháp khi cha mẹ qua đời.  

Bổn Phận Cha Mẹ

Đối với con cái, cha mẹ cũng có năm bổn phận: Một là dạy con làm lành lánh ác. Hai là khuyên con thân cận với thầy lành, bạn tốt, và môi trường thiên nhiên. Ba là gợi ý và chọn nghề thích hợp cho con. Bốn là dựng vợ gã chồng tốt đẹp cho con. Năm là trao của cải thừa tự và quyền lợi cho con đúng thời.

Lễ lạy phương Đông theo lời Đức Phật dạy có nghĩa là con cái có bổn phận hiếu kính phụng dưỡng cha mẹ và cha mẹ cũng có trách nhiệm nuôi nấng và dạy dỗ con cái nên người tài đức. (O)

2) Phương Tây tượng trưng cho vợ và chồng

Bổn phận người vợ

Này Thiện Sinh, đối với chồng, người vợ có năm bổn phận: Một là chăm lo việc nhà gọn gàng và ngăn nắp. Hai là niềm nở tiếp đón bạn bè và thân quyến bên chồng. Ba là chung thủy với chồng. Bốn là giữ gìn của cải vợ chồng làm ra. Năm là làm các công việc gia đình nhanh nhẹn và khéo léo.     

Bổn phận người chồng

Đối với vợ, người chồng cũng có năm bổn phận: Một là thương yêu vợ. Hai là học hạnh lắng nghe và nói lời ái ngữ với vợ. Ba là tin tưởng vợ. Bốn là biết mua quà tặng sinh nhật cho vợ. Năm là giao quyền hành và cung cấp những thứ cần dùng cho vợ.

Lễ lạy phương Tây theo lời Đức Phật dạy có nghĩa là vợ chồng sống chung thủy, biết nhường nhịn, và tin cậy lẫn nhau để xây dựng hạnh phúc và mái ấm cho gia đình. (O)       

3) Phương Nam tượng trưng cho thầy cô giáo và học trò

Bổn Phận Học Trò

Này Thiện Sinh, đối với thầy cô giáo, người học trò có năm bổn phận: Một là cung kính, lễ phép, và sẵn lòng giúp thầy cô làm những việc cần thiết. Hai là biết vâng lời thầy cô dạy bảo. Ba là biết lắng nghe và học hỏi những điều hay nơi thầy cô. Bốn là phải có tinh thần cầu học những gì mình chưa biết nơi thầy cô. Năm là biết thực tập, ứng dụng, và sáng tạo những gì mình đã học.

Bổn Phận Thầy Cô Giáo

Đối với học trò, thầy cô giáo cũng có năm bổn phận: Một là giảng dạy cho học trò thấy biết chân chánh, tư duy chân chánh, nói năng chân chánh, lời nói, ý nghĩ, và việc làm chân chánh, nghề nghiệp chân chánh, tinh tấn chân chánh, nhớ nghĩ chân chánh, thiền định chân chánh. Hai là hướng dẫn học trò những phương pháp sư phạm. Ba là không che dấu kiến thức, hết lòng truyền trao kiến thức và kinh nghiệm sống cho học trò. Bốn là truyền trao thân giáo, khẩu giáo, ý giáo cho học trò. Năm là mong muốn học trò trở thành những người tài đức và giỏi hơn mình.

Lễ lạy phương Nam theo lời Đức Phật dạy có nghĩa là cả thầy và trò đều là những người đạo đức và gương mẫu biết trao truyền, tiếp nối, và ứng dụng kiến thức đạo học và thế học vào trong đời sống hằng ngày để làm lợi lạc cho số đông ngay trong cuộc sống hiện tại. (O)

4) Phương Bắc tượng trưng cho bổn phận mình đối với thân quyến và bạn bè

Bổn Phận Mình đối với Thân Quyến

Này Thiện Sinh, đối với thân quyến, mình có năm bổn phận: Một là khuyên thân quyến làm các việc lành. Hai là động viên thân quyến xa lánh các việc ác. Ba là dùng phương pháp tưới hoa để khen ngợi thân quyến. Bốn là viếng thăm thân quyến khi họ có bệnh. Năm là tận tình giúp đỡ thân quyến khi họ gặp hoàn cảnh nghèo khổ.

 Bổn Phận Mình đối với Bạn Bè

Đối với bạn bè, mình cũng có năm bổn phận: Một là giúp đỡ bạn khi gặp khó khăn. Hai là không bỏ bạn khi gặp hoạn nạn. Ba là chơi với bạn tốt có thể giúp mình thành tựu trong cuộc sống dễ dàng. Bốn là khuyên bạn dừng lại và buông bỏ các việc bất thiện. Năm là giao lưu với bạn trong tinh thần đối thoại, góp ý, xây dựng, hoan hỷ, thông cảm, và bình đẳng.

Lễ lạy phương Bắc theo lời Đức Phật dạy có nghĩa là tỏ lòng khoan dung, lân mẫn, thương yêu, và hiểu biết với thân nhân và bạn bè. (O)  

5) Phương Trên tượng trưng cho cư Sĩ và xuất Sĩ

Bổn Phận Cư Sĩ

Này Thiện Sinh, đối với xuất Sĩ, cư Sĩ có năm bổn phận: Một là chọn Tam Bảo. Hai là học, hiểu, thực hành, và áp dụng Năm Điều Đạo Đức vào trong đời sống hằng ngày. Ba là khéo léo phát khởi thiện tâm tạo phước, cúng dường, và hộ trì Tam Bảo. Bốn là không thần tượng bất cứ một thầy hay một sư cô cá nhân nào, mà hãy xem tất cả các vị xuất Sĩ tài đức đều là thầy và sư cô của mình. Năm là biết cách quán sát và chọn lọc những lời dạy nào sau khi đem ra áp dụng và thực hành những lời dạy đó phù hợp với số đông ngay trong đời sống hiện tại thì nên thực hành, và ngược lại, thì nên từ bỏ chúng.

Bổn Phận Xuất Sĩ

Đối với cư Sĩ, vị xuất Sĩ cũng có năm bổn phận: Một là giảng dạy Năm Điều Đạo Đức và Bát Thánh Đạo cho người cư Sĩ. Hai là hướng dẫn cho người cư Sĩ Pháp Học gồm có Đạo Đức, Thiền Định, và Trí Tuệ, và Pháp Hành gồm có Thiền Chỉ và Thiền Quán. Ba là hướng dẫn cho người cư Sĩ phát tâm hoan hỷ trước khi cúng dường, hoan hỷ trong khi cúng dường, và hoan hỷ sau khi cúng dường. Bốn là hướng dẫn cho người cư Sĩ giữ vững niềm tin chánh tín đối với Tam Bảo. Năm là hướng dẫn cho người cư Sĩ biết cách thực hành niệm ân Đức Phật, niệm ân chánh Pháp, và niệm ân Tăng đoàn.

Lễ lạy phương Trên theo lời Đức Phật dạy có nghĩa là cả xuất Sĩ và cư Sĩ quyết tâm học, hiểu, thực hành, và ứng dụng Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày để đem lại hoa trái an vui và hạnh phúc cho số đông ngay trong cuộc sống hiện tại. Sự hộ trì chánh Pháp và hoằng dương chánh Pháp giữa những người cư Sĩ và xuất Sĩ gắn kết với nhau rất mật thiết. (O)  

6) Phương Dưới tượng trưng cho nhân viên và người điều hành

Bổn Phận Nhân Viên

Này Thiện Sinh, đối với người điều hành, nhân viên có năm bổn phận: Một là đi làm việc sớm và đúng giờ. Hai là có trách nhiệm làm xong công việc khi được giao phó. Ba là làm việc thứ tự và có phương pháp chánh niệm. Bốn là không trộm cắp và giữ gìn tài sản chung. Năm là tôn trọng, kính mến, và bảo vệ uy tín và danh giá cho người điều hành.

Bổn Phận Người Điều Hành

Đối với nhân viên, người điều hành cũng có năm bổn phận: Một là giao việc làm phù hợp với khả năng và trình độ cho nhân viên. Hai là cung cấp cho nhân viên tiền lương hoặc đồ ăn uống. Ba là chăm sóc và thăm hỏi chu đáo khi nhân viên có bệnh. Bốn là khen thưởng và đánh giá các thành tích xuất sắc cho nhân viên. Năm là cho nhân viên nghỉ phép thích hợp.

Lễ lạy phương Dưới theo lời Đức Phật dạy có nghĩa là người điều hành và nhân viên luôn có bổn phận và trách nhiệm với nhau cả vật chất lẫn tinh thần. (O) 

Sáu phương được giảng dạy trên đây, Đức Thế Tôn ân cần khuyên bảo chàng Thiện Sinh những điều tinh yếu qua bài kệ tóm tắt như sau:

Cha mẹ là phương Đông

Sư trưởng là phương Nam

Vợ chồng là phương Tây

Thân quyến là phương Bắc

Tôi tớ là phương Dưới

Xuất Sĩ là phương trên

Người hành giả mẫu mực

Kính lễ các phương ấy.

Khi sống trong an lạc

Khi chết trong an vui

Người trí tu như vậy 

Sống vì mình vì người

Luôn đem lại an lành

Cho nhân gian trần thế. (O)

Trên lộ trình tu tập

Nương theo người bạn lành

Học theo người đức hạnh

Đem lợi lạc quần sanh.

Sống ở nhân gian này

Mình biết làm điều lành

Khuyên người làm điều lành

Hòa bình luôn thêm lớn.

Người Phật tử chân chánh

Thân làm các việc lành

Ý nghĩ các việc lành

Miệng nói các việc lành

Thân tâm thường tĩnh lặng. (O)

Hành giả đi vào đời

Như hoa nở khắp nơi

Trang nghiêm và tự tại

Làm an lạc cuộc đời.

Như Ong đến tìm hoa

Bám hoa để hút mật

Hút xong rồi bay đi

Hoa vẫn còn nguyên vẹn.

Siêng hộ trì chánh Pháp

Siêng ủng hộ Tăng Đoàn

Cúng dường bậc Ứng Cúng

Là phước điền vô thượng.

Những việc đã nêu trên

Hành giả luôn thực hiện

Phước đức càng thêm lớn

Như nước sông về biển. (O)

Sáu Phương được Đức Phật giảng dạy trên đây là sáu mối quan hệ đạo đức tương tức với nhau rất mật thiết giữa gia đình, học đường, và xã hội, chứa đựng các giá trị nhân văn, nhập thế, nhân quả, bổn phận, và trách nhiệm thật là sâu sắc, và giúp hành giả ý thức sống an lạc và hạnh phúc cho tự thân và cho tha nhân ngay trong cuộc sống hiện tại. Những lời dạy của Đức Phật mang ý nghĩa rất thiết thực và thù thắng vượt thoát thời gian và không gian. Dù sống ở đâu, nơi nào, và quốc gia nào trên thế giới, nếu hành giả khéo áp dụng Kinh Thiện Sanh này vào trong đời sống hằng ngày đúng nơi, đúng lúc, và đúng đối tượng, thì chắc chắn sẽ đem lại nhiều chất liệu tu tập, an vui, và hạnh phúc cho nhiều người.  

Sau khi nghe Đức Phật giảng dạy xong, chàng Thiện Sanh vô cùng hoan hỷ thành kính đảnh lễ Đức Phật và khởi tâm tán thán những lời ý nghĩa như sau:

“Thật vi diệu thay, Bạch Đức Thế Tôn! Thật vi diệu thay, Bạch đức Thiện Thệ! Giáo pháp do chính Ngài khéo thuyết giảng rất thiết thực hiện tại, cụ thể, và rõ ràng, đã thấm sâu vào tâm con, làm cho tâm con mềm ra, hiền ra, và thiện ra. Phật pháp đã khai mở tâm con bừng sáng ra, như người dựng đứng dậy những gì bị ngã xuống, lật ngửa lên những gì bị úp, mở toang ra những gì bị đóng kín, phô bày ra những gì bị che giấu, chỉ đường cho những kẻ bị lạc lối, đem ánh sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể nhìn thấy rõ mọi sự vật tường tận, như đi trong đêm tối gặp được ánh sáng, như người mù, mắt được sáng ra. Bằng nhiều phương pháp giảng dạy khéo léo, Đức Thế Tôn đã giúp cho con nhìn thấy rõ mọi sự vật sáng tỏ như ánh sáng ban ngày. (O)  

Cúi xin Đức Thế Tôn từ bi tiếp nhận cho con làm đệ tử tại gia. Từ này cho tới trọn đời, con quyết tâm nương tựa Đức Phật, giáo Pháp, và Tăng đoàn, và phát nguyện thực hành Năm Điều Đạo Đức trọn vẹn: Một là tôn trọng sự sống, phát triển tâm từ bi, bảo vệ môi trường thiên nhiên, và nuôi dưỡng hòa bình nội tâm bằng cách ý thức không sát hại sinh mạng. Hai là xả bỏ tâm bỏn xẻn, tham lam, phát tâm bố thí, cúng dường, và hộ trì Tam Bảo bằng cách ý thức không lấy của không cho. Ba là xây dựng hạnh phúc gia đình, sống chung thủy hợp pháp với người hôn phối bằng cách ý thức không tà hạnh, ngoại tình, và không xâm phạm tình dục của trẻ em. Bốn là nói lời chân thật, hòa hợp, ái ngữ, và dễ thương, đem lại lòng tin cậy lẫn nhau bằng cách ý thức không nói dối. Năm là bảo vệ sức khỏe tráng kiện, tinh thần minh mẫn, đem lại an vui và hạnh phúc cho gia đình, học đường, và cho xã hội bằng cách ý thức không sử dụng các chất say, các chất ma túy, kể cả các việc hút thuốc lá, chơi cờ bạc, chơi các trò chơi game bạo động trực tuyến.”

Khi ý thức tránh xa các chất độc tố này, Pháp học, pháp hành, pháp hỷ, và Pháp lạc có khả năng thấm nhuần và làm mát dịu thân tâm. Sau khi chính thức trở thành người đệ tử thuần thành của Đức Phật, cư sĩ Thiện Sinh vô cùng hoan hỷ giữ vững niềm tin nương tựa Tam Bảo, áp dụng, và thực hành Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày để đem lại lợi lạc cho quần sanh. 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần, O)

 

KINH DẠY VỀ NIỀM TIN CHÂN CHÁNH

Giữ Vững Niềm Tin

Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Thế Tôn và Tăng Đoàn đi từng bước thảnh thơi đến Quận Kê-sa-put-ta của dân chúng Kalama[28] thuộc nước Kosala. Khi nghe đức hạnh, uy nghi, và năng lực từ bi và tuệ giác của Đức Phật và Tăng Đoàn đi đến xứ này, dân chúng Kalama vui mừng quay quanh, cung kính đảnh lễ Đức Phật và Tăng đoàn, xin tham vấn Đức Phật một số câu hỏi về niềm tin chân chánh như sau:   

“Bạch Đức Thế Tôn, thỉnh thoảng có những vị du sĩ, đạo sĩ Bà-la-môn, đến đây để truyền đạo, khuyến dụ chúng con vào đạo của họ, đề cao giáo lý của đạo họ là trên hết, khinh chê, miệt thị, bài xích, và xuyên tạc giáo lý của những người khác. Sự việc này làm cho chúng con cảm thấy phân vân. Trong số các vị ấy, vị nào nói chân chánh và vị nào nói không chân chánh? Giáo lý của đạo nào là đúng và giáo lý của đạo nào là không đúng? Chúng con nên theo ai và chúng con không nên theo ai? Chúng con nên theo giáo lý của đạo nào và chúng con không nên theo giáo lý của đạo nào?”

Đức Phật ân cần dạy bảo: “Này quý vị Kalama, quý vị đã khởi lên sự nghi ngờ và phân vân là đương nhiên rồi. Trong trường hợp này, quý vị không nên vội tin theo ai và bác bỏ giáo lý của đạo nào khi quý vị tự mình chưa hiểu rõ.” Có mười niềm tin chân chánh mà quý vị cần phải hiểu rõ sau đây: (O)

Mười Điều Tin Chân Chánh

Một là đừng vội tin một điều gì dù điều đó là truyền khẩu, hay nghe người ta nói lại.

Hai là đừng vội tin một điều gì dù điều đó là truyền thống, truyền thuyết, hay phong tục tập quán.

Ba là đừng vội tin một điều gì dù điều đó là báo cáo, phỏng đoán, hay tin đồn.

Bốn là đừng vội tin một điều gì dù điều đó được ghi chép trong kinh điển, hay trong sách vở.

Năm là đừng vội tin một điều gì dù điều đó là ước đoán, hay lý luận siêu hình.

Sáu là đừng vội tin một điều gì dù điều đó là tiên đề, hay lập trường do mình suy diễn.

Bảy là đừng vội tin một điều gì dù điều đó chỉ dựa trên quan điểm thiên vị, hay dữ liệu mơ hồ.

Tám là đừng vội tin một điều gì dù điều đó là định nghiệp, định kiến, thường kiến, hay đoạn kiến.

Chín là đừng vội tin một điều gì dù điều đó là một hù dọa và tẩy não có tính cách bị cấy con chíp sợ hãi vào đầu, hay sự răn đe của một đấng thần linh tối cao nào do con người bịa đặt, tưởng tượng, suy nghĩ, và nói ra.

Mười là đừng vội tin một điều gì dù điều đó được các nhà truyền giáo, vị đạo sư, hay vị thầy của mình tuyên bố. (O)

Chánh tín được soi sáng và phơi bày

Này Kalama, khi nào quý vị tự mình biết rõ: “Các pháp này là bất thiện, các pháp này là đáng chê, các pháp này bị người trí khinh thường và chỉ trích, các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận, sẽ đưa đến bất hạnh và khổ đau, thì quý vị hãy nên mạnh dạn từ bỏ chúng. Tham lam, sân hận, và si mê là các pháp bất thiện. Sát hại sinh mạng, lấy của không cho, sống tà hạnh và ngoại tình, xâm phạm tình dục của trẻ em, nói dối, sử dụng các chất say, các chất ma túy, và các chất độc tố đều là các pháp bất thiện. Khi quý vị bị các pháp bất thiện chế ngự và chi phối, thì quý vị chắc chắn sẽ chịu bất hạnh và khổ đau, chê bai và chỉ trích.

Ngược lại, này Kalama, khi nào quý vị tự mình biết rõ: “Các pháp này là thiện, các pháp này là đáng khen, các pháp này được người trí ca ngợi và tán thán, các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận, sẽ đưa đến an vui và hạnh phúc, thì quý vị hãy duy trì và phát triển chúng. Không tham lam, không sân giận, và không si mê là các pháp thiện. Không sát hại sinh mạng, không lấy của không cho, không tà hạnh và ngoại tình, không xâm phạm tình dục của trẻ em, không nói dối, và không sử dụng các chất say, các chất ma túy, và các chất độc tố đều là các pháp thiện. Khi các vị được các pháp thiện chế ngự và chi phối, thì quý vị chắc chắn sẽ gặt hái những hoa trái an vui và hạnh phúc, đáng được người trí ca ngợi và tán thán.

Này quý vị Kalama, khi các pháp thiện được thực hành thuần thục, tham lam, sân hận, và si mê được thanh lọc và chuyển hóa, thì pháp hỷ, pháp học, và pháp hành có khả năng thấm nhuần và làm mát dịu thân tâm. Khi một vị Thánh đệ tử an trú vững chãi trong chánh niệm và tĩnh giác, thì tâm từ, bi, hỷ, xả của vị ấy có khả năng tỏa sáng khắp mọi nơi và mọi lúc, bao trùm tất cả các loài hữu tình và vô tình. Khi oán thù, ác nghiệp, bất hạnh, phiền não, và khổ đau trong tâm của vị Thánh đệ tử được đoạn tận, thì ngay trong hiện đời, vị ấy sống rất an lạc, và đến lúc lâm chung, vị ấy sẽ sinh về thế giới an lành.

Này quý vị Kalama, khi những ai nói, nghĩ, và làm một điều gì, thì quý vị không nên vội tin họ, mà quý vị hãy nên quán sát, tư duy, và chiêm nghiệm những gì họ nói, nghĩ, và làm có đi đối với nhau không, có ăn khớp với nhau không, có phù hợp với nhau không, và có đem lại lợi lạc cho tự thân và cho tha nhân không? Nếu có, thì quý vị hãy quyết tâm tin theo, thực hành, nuôi dưỡng, và phát triển chúng. Nếu không, thì quý vị hãy mạnh dạn buông bỏ chúng. (O)

Này quý vị Kalama, mười niềm tin chân chánh và các pháp thiện Như Lai đã giảng dạy trên đây. Quý vị hãy nên ghi nhớ và hành trì. Vì an lạc cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, quý vị hãy nên áp dụng và thực hành Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày để đem lại niềm tin chân chánh và vững chãi cho tự thân và cho tha nhân ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại. Khi nghe Đức Phật giảng dạy, phân tích, và giải thích niềm tin chân chánh rõ ràng, dân chúng Kalama vô cùng hoan hỷ thành kính đảnh lễ Đức Phật, và nói lên những lời tán thán, cung kính, và ẩn dụ như sau:

“Thật vi diệu thay, Bạch Đức Thế Tôn! Thật vi diệu thay, Bạch đức Thiện Thệ! Chánh Pháp do chính Đức Phật khéo thuyết giảng rất thiết thực hiện tại, cụ thể, và rõ ràng, đã thấm sâu vào tâm chúng con, làm cho tâm chúng con mềm ra, hiền ra, và thiện ra. Phật pháp đã khai mở tâm chúng con bừng sáng ra, như người dựng đứng dậy những gì bị ngã xuống, lật ngửa lên những gì bị úp, mở toang ra những gì bị đóng kín, phô bày ra những gì bị che giấu, chỉ đường cho những kẻ bị lạc lối, đem ánh sáng vào trong bóng tối để cho những ai có mắt có thể nhìn thấy rõ mọi sự vật tường tận, như đi trong đêm tối gặp được ánh sáng, như người mù, mắt được sáng ra. Bằng nhiều phương pháp giảng dạy khéo léo, Đức Thế Tôn đã giúp cho chúng con nhìn thấy rõ mọi sự vật sáng tỏ như ánh sáng ban ngày. (O)

Cúi xin Đức Thế Tôn từ bi tiếp nhận cho chúng con làm đệ tử tại gia. Từ nay cho tới trọn đời, chúng con quyết tâm  nương tựa Đức Phật, giáo Pháp, và Tăng đoàn, và phát nguyện thực hành Năm Điều Đạo Đức trọn vẹn: Một là tôn trọng sự sống, phát triển tâm từ bi, bảo vệ môi trường thiên nhiên, và nuôi dưỡng hòa bình nội tâm bằng cách ý thức không sát hại sinh mạng. Hai là xả bỏ tâm bỏn xẻn, tham lam, phát tâm bố thí, cúng dường, và hộ trì Tam Bảo bằng cách không lấy của không cho. Ba là xây dựng hạnh phúc gia đình, sống chung thủy hợp pháp với người hôn phối, bằng cách sống không tà hạnh, ngoại tình, và không xâm phạm tình dục của trẻ em. Bốn là nói lời chân thật, hòa hợp, ái ngữ, và dễ thương, đem lại lòng tin cậy lẫn nhau và uy tín cho số đông bằng cách ý thức không nói dối. Năm là bảo vệ sức khỏe tráng kiện, tinh thần minh mẫn, đem lại an vui và hạnh phúc cho gia đình, học đường, và cho xã hội bằng cách không sử dụng các chất say, các chất ma túy, các chất độc tố, kể cả các việc hút thuốc, chơi cờ bạc, chơi các trò chơi game bạo động trực tuyến.”

Khi ý thức tránh xa các chất độc tố này, Pháp học, pháp hành, pháp hỷ, và Pháp lạc có khả năng thấm nhuần và làm mát dịu thân tâm. Sau khi trở thành những người đệ tử thuần thành của Đức Phật, các vị Kalama vô cùng hoan hỷ giữ vững niềm tin nương tựa Tam Bảo, áp dụng, và thực hành Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày để đem lại lợi lạc cho quần sanh.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần, O)

Tâm Kinh Tuệ Giác Qua Bờ

Avalokita, khi quán chiếu sâu sắc
Với tuệ giác qua bờ,
Bỗng khám phá ra rằng:
Năm uẩn đều trống rỗng.
Giác ngộ được điều đó,
Bồ-tát vượt ra được
Mọi khổ đau ách nạn.
Này Śāriputra,
Hình hài này là không,
Không là hình hài này;
Hình hài chẳng khác không,
Không chẳng khác hình hài.
Điều này cũng đúng với
Cảm thọ và tri giác,
Tâm hành và nhận thức.
“Này Śāriputra,
Mọi hiện tượng đều không,
Không sinh cũng không diệt,
Không có cũng không không,
Không dơ cũng không sạch,
Không thêm cũng không bớt.

Cho nên trong cái không,
Năm uẩn đều không thể
Tự riêng mình có mặt.
Mười tám loại hiện tượng

Là sáu căn, sáu trần
Và sáu thức cũng thế;

Mười hai khoen nhân duyên
Và sự chấm dứt chúng
Cũng đều là như thế;

Khổ, tập, diệt và đạo
Tuệ giác và chứng đắc
Cũng đều là như thế. (O)
Khi một vị bồ-tát
Nương tuệ giác qua bờ
Không thấy có sở đắc
Nên tâm hết chướng ngại.
Vì tâm hết chướng ngại
Nên không còn sợ hãi,
Đập tan mọi vọng tưởng,
Đạt niết-bàn tuyệt hảo.
Chư Phật trong ba đời
Nương tuệ giác qua bờ
Đều có thể thành tựu
Quả chánh giác toàn vẹn.

Vậy nên phải biết rằng
Phép tuệ giác qua bờ
Là một linh chú lớn,
Là linh chú sáng nhất,
Là linh chú cao tột,
Không có linh chú nào
Có thể so sánh được.

Là tuệ giác chân thực

Có khả năng diệt trừ

Tất cả mọi khổ nạn.

Vậy ta hãy tuyên thuyết

Câu linh chú qua bờ:

Gate, gate, pāragate, pārasamgate, bodhi, svaha.” (3 lần, O)

“Vượt qua, vượt qua, khéo vượt qua, vượt qua rồi, đạt giác ngộ, vui lắm thay.” (3 lần, O)

NƯƠNG TỰA TAM BẢO

Nương Tựa Đức Phật

Con về nương tựa Phật, Người đưa đường chỉ lối từ, bi, và trí huệ cho con trong cuộc đời.

Đã về nương tựa Phật, con đang có hướng đi sáng đẹp cho con trong cuộc đời.

Về nương Phật trong con, xin nguyện cho mọi người, thể nhận được giác tính, sớm mở lòng Bồ-đề. (O)

Nương Tựa Pháp

Con về nương tựa Pháp, con đường của thực tập hòa bình, an vui, hạnh phúc, thương yêu, và hiểu biết cho số đông ngay trong cuộc sống hiện tại.

Đã về nương tựa Pháp, con đang học hỏi và tu tập con đường Thánh gồm có đạo đức, thiền định, và trí tuệ tương tức mật thiết với chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Về nương Pháp trong con, xin nguyện cho mọi người, nắm vững các pháp môn, cùng lên đường chuyển hóa. (O) 

Nương Tựa Tăng 

Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người tu tập nguyện sống cuộc đời đạo đức, hòa hợp, và tỉnh thức cho tự thân và cho tha nhân ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại.

Đã về nương tựa Tăng, con đang được Tăng thân soi sáng, dìu dắt, và nâng đỡ trên con đường thực tập.

Về nương Tăng trong con, xin nguyện cho mọi người, xây dựng nên bốn chúng, nhiếp hóa được muôn loài. (O)

Hồi Hướng

Trì tụng Kinh thâm diệu

Tạo công đức vô biên

Đệ tử xin hồi hướng

Cho chúng sinh mọi miền

Pháp môn xin nguyện học

Ơn nghĩa xin nguyện đền

Phiền não xin nguyện đoạn

Quả Phật xin chứng nên.

Nguyện sanh về Tịnh Độ

Sen nở thấy vô sanh

Chư Bụt và Bồ Tát

Là những bạn đồng hành.

Nguyện dứt hết phiền não

Cho trí tuệ phát sanh

Cho tội chướng tiêu tán

Quả giác ngộ viên thành. (O)

Phát nguyện tinh tấn và lạy tạ ơn Tam Bảo 

Đệ tử Gotama, luôn luôn tự tỉnh thức, không luận ngày hay đêm, thường tưởng niệm Phật Đà.

Nam Mô Phật Đà Da.  (O, 1 lạy).

 

Đệ tử Gotama, luôn luôn tự tỉnh thức, không luận ngày hay đêm, thường tưởng niệm Chánh Pháp.

Nam Mô Đạt Mạ Da. (O, 1 lạy).

 

Đệ tử Gotama, luôn luôn tự tỉnh thức, không luận ngày hay đêm, thường tưởng niệm Tăng Đoàn.

Nam Mô Sanghaya. (O, 1 lạy)

 

Bồ đề diệu pháp biến trang nghiêm.

Tùy theo chỗ ở thường an lạc.

 

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sinh

Đều trọn thành Phật đạo. (O)

 

NGHI THỨC PHẬT ĐẢN

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần, O)

Dâng Hương

Hương đốt khói trầm xông ngát

Kết thành một đóa tường vân,

Đệ tử đem lòng thành kính

Cúng dường chư Phật mười hương

Giới luật chuyên trì nghiêm mật

Công phu thiền định tinh cần

Tuệ giác hiện dần quả báu

Dâng thành một nén tâm hương.

Chúng con kính dâng hương giới, hương định, hương tuệ, hương giải thoát, hương giải thoát tri kiến lên chư Phật, chư vị Bồ Tát, chư hiền thánh Tăng, chư hộ pháp, thiện thần, chứng minh lòng thành kính của chúng con. (O)

Kính đảnh lễ Tam Bảo

Đệ tử chúng con chí tâm kính lễ chư Phật thường trú trong ba đời và mười phương. (O, 1 lạy)

Đệ tử chúng con chí tâm kính lễ chư Pháp thường trú trong ba đời và mười phương. (O, 1 lạy)

Đệ tử chúng con chí tâm kính lễ chư Tăng thường trú trong ba đời và mười phương. (O, 1 lạy)

Xin tốt như hoa sen

rạng ngời như Bắc đẩu

xin quay về nương tựa

bậc Thầy của nhân thiên. 

XƯNG TÁN ĐỨC PHẬT

“Đức Phật Thế Tôn;

bậc Thầy lãnh đạo tâm linh an bình và cao thượng của chúng con;

bậc Thầy xứng đáng nhất để được cúng dường;

bậc Thầy hiểu biết và thương yêu;

bậc Thầy có đầy đủ công hạnh và tuệ giác;

bậc Thầy đã đạt được an vui và giải thoát toàn vẹn;

bậc Thầy hiểu thấu thế gian;

bậc Thầy có khả năng điều phục được con người;

bậc Thầy của cả hai giới thiên và nhân;

bậc Thầy đã giác ngộ và tỉnh thức tròn đầy; 

bậc Thầy đáng được thế gian tôn sùng và quý kính nhất trên đời.” (O)

Chí tâm kính lễ:

Từ cung trời Đâu Suất,

báo mộng cho Ma Gia,

cưỡi voi trắng sáu ngà,[29]

đi vào trong thai mẹ.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (O)

Chí tâm kính lễ:

Sinh dưới cây vô ưu,

được hai dòng nước tắm,[30]

bước bảy bước[31] hoa sen,

dõng dạc nói lên rằng:

Người giác ngộ tối thắng.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (O)

Chí tâm kính lễ:

Bốn mươi chín ngày đêm,

thiền tọa rất chuyên cần,

đạt thành quả giác ngộ,

dưới ánh sao mai sáng.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (O)

Chí tâm kính lễ:

Suốt bốn mươi lăm năm,

Nói pháp Khổ, Diệt Khổ

đem lại nhiều an lành

cho nhân gian trần thế.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (O)

Chí tâm kính lễ:

Tám mươi tuổi vừa mãn,

Phật nhập vào Niết bàn,

dưới hai cây song thọ,

để Xá lợi trần gian.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (O)

Chí tâm kính lễ:

Bậc đạo Sư tâm linh

Thầy của trời và người

Cha lành trong các cõi

đem lợi lạc quần sanh.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (O) 

Hồi Hướng 

Nguyện đem công đức này,

Hướng về khắp tất cả,

đệ tử và chúng sanh

đều trọn thành Phật đạo. (OOO) 

 

NGHI THỨC VU LAN

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)

Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát

Dâng Hương

Hương đốt khói trầm xông ngát

Kết thành một đóa tường vân,

Đệ tử đem lòng thành kính

Cúng dường chư Phật mười hương

Giới luật chuyên trì nghiêm mật

Công phu thiền định tinh cần

Tuệ giác hiện dần quả báu

Dâng thành một nén tâm hương.

Chúng con kính dâng hương giới, hương định, hương tuệ, hương giải thoát, hương giải thoát tri kiến lên chư Phật, chư vị Bồ Tát, chư hiền thánh Tăng, chư hộ pháp, thiện thần, chứng minh lòng thành kính của chúng con. (O) 

Kính đảnh lễ Tam Bảo

Đệ tử chúng con chí tâm kính lễ chư Phật thường trú trong ba đời và mười phương. (O, 1 lạy)

Đệ tử chúng con chí tâm kính lễ chư Pháp thường trú trong ba đời và mười phương. (O, 1 lạy)

Đệ tử chúng con chí tâm kính lễ chư Tăng thường trú trong ba đời và mười phương. (O, 1 lạy)

Sám Vu Lan

Ðệ tử chúng con

Vâng lời Phật dạy

Ngày rằm tháng bảy

Gặp hội Vu Lan

Phạm vũ huy hoàng

Ðốt hương đảnh lễ

Mười phương tam thế

Phật, Pháp, Thánh Hiền

Noi gương đức Mục Kiền Liên

Nguyện làm con thảo

Lòng càng áo não

Nhớ nghĩa thân sanh

Con đến trưởng thành

Mẹ dày gian khổ

Ba năm nhũ bộ

Chín tháng cưu mang

Không ngớt lo toan

Quên ăn bỏ ngủ

Ấm no đầy đủ

Cậy có công cha

Chẳng quản yếu già

Sanh nhai lam lũ

Quyết cùng hoàn vũ

Phấn đấu nuôi con

Giáo dục vuông tròn

Ðem đường học đạo

Ðệ tử ơn sâu chưa báo

Hổ phận kém hèn

Giờ này quỳ trước đài sen

Chí thành cung kính

Ðạo tràng thanh tịnh

Tăng bảo trang nghiêm

Hoặc thừa Tự Tứ

Hoặc hiện tham thiền

Ðầy đủ thiện duyên

Dũ lòng lân mẫn

Hộ niệm cho:

Bảy kiếp cha mẹ chúng con

Ðượm nhuần mưa pháp

Còn tại thế:

Thân tâm yên ổn

Phát nguyện tu trì

Ðã qua đời:

Ác đạo xa lìa

Chóng thành Phật quả

Ngưỡng mong các Ðức Như Lai

Khắp cõi hư không

Từ bi gia hộ.

Nam mô Ðại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ tát (3 lần)

Hồi Hướng 

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sinh

Đều trọn thành Phật đạo. (O)

 

NGHI THỨC SÁM HỐI

Nam Mô Quá Khứ Tỳ Bà Thi Phật (O)

Nam Mô Thi Khí Phật (O)

Nam Mô Tỳ Xá Phù Phật (O)

Nam Mô Câu Lưu Tôn Phật (O)

Nam Mô Câu Na Hàm Mâu Ni Phật (O)

Nam Mô Ca Diếp Phật (O)

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (O)

Nam Mô Đương Lai Di Lặc Tôn Phật (O)

Nam Mô Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật (O)

Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai (O)

Nam mô Dược Sư Hải Hội Phật Bồ Tát (O)

Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (O)

Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát (O)

Nam Mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát (O)

Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát (O)

Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát (O)

Nam Mô Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát (O)

Nhất tâm kính lễ Tôn giả Trưởng lão Xá Lợi Phất, vị thầy có trí tuệ biện tài vô ngại, đối đáp, giải quyết mọi vấn đề khéo léo, uyển chuyển, và nhanh lẹ đệ nhất. (O)

Nhất tâm kính lễ Tôn giả Trưởng lão Ma Ha Mục Kiền Liên, vị thầy có thần thông, tấm lòng hiếu thảo, cung kính, và cúng dường đại Tăng đệ nhất. (O)

Nhất tâm kính lễ Tôn giả Trưởng lão Ma Ha Ca Diếp, vị Tổ Sư gương mẫu có khả năng thu nhiếp đại chúng, lãnh đạo Tăng đoàn, tu hành khổ hạnh, và làm chủ tọa cho kỳ kiết tập Kinh điển đệ nhất. (O)

Nhất tâm kính lễ Tôn giả Trưởng lão Tu Bồ Đề, vị thầy thâm nhập và quán chiếu tánh không đệ nhất. (O)

Nhất tâm kính lễ Tôn giả Trưởng lão Phú Lâu Na, vị giảng sư tài giỏi thuyết pháp đệ nhất. (O)

Nhất tâm kính lễ Tôn giả Trưởng lão Ca Chiên Diên, vị luận sư tài giỏi luận giải Phật pháp đệ nhất. (O)

Nhất tâm kính lễ Tôn giả Trưởng lão A Na Luật, vị thầy có cái nhìn không chướng ngại, thiên nhãn đệ nhất. (O)

Nhất tâm kính lễ Tôn giả Trưởng lão Ưu Ba Li, vị thầy đạo đức gương mẫu trùng tuyên Luật tạng, và hành trì giới Luật đệ nhất. (O)

Nhất tâm kính lễ Tôn giả Trưởng lão A Nan Đa, vị thầy có khả năng nghe nhiều, tiếp thu, nhớ kỷ Phật pháp, trùng tuyên Kinh tạng, và cũng là vị thị giả tướng hảo, trung thành, tận tâm, chu đáo, và khéo léo đệ nhất, và thành công thỉnh mời Đức Phật 3 lần cho người nữ xuất gia, và thành lập giới đoàn tỳ kheo ni. (O)

Nhất tâm kính lễ Tôn giả Trưởng lão La Hầu La, vị thầy trẻ tuổi có khả năng học hạnh kham nhẫn, lắng nghe, và thực hành oai nghi, tế hạnh để chuyển hóa thân tâm đệ nhất. (O)

Nhất tâm kính lễ Tôn giả Trưởng lão Khương Tăng Hội, vị Tổ Sư đầu tiên ở Việt Nam, có công hoằng dương Phật pháp, xây dựng Tăng đoàn, và truyền bá đạo Phật trong và ngoài nước Việt Nam đệ nhất. (O)

Nhất tâm kính lễ nữ Tôn giả Trưởng lão Kiều Đàm Di, vị Tổ Sư gương mẫu có khả năng thu nhiếp đại chúng, lãnh đạo Ni đoàn, và tu hành khổ hạnh đệ nhất. (O)

Nhất tâm kính lễ nữ trưởng giả Tỳ Xá Khư, vị thí chủ hảo tâm bố thí, cúng dường, xây dựng tinh xá cho Tăng đoàn, và hộ trì Phật pháp đệ nhất. (O)

Nhất tâm kính lễ nam trưởng giả Cấp Cô Độc, vị thí chủ hảo tâm bố thí, cúng dường, xây dựng tinh xá cho Tăng đoàn, cứu giúp người cô đơn nghèo khổ, và hộ trì Phật pháp đệ nhất. (O)

Nhất tâm kính lễ Vua A Sô Ka, vị hoàng đế thánh Phật tử có công xây dựng Chùa tháp, khắc chạm bia ký, thanh lọc Tăng đoàn, ủng hộ kiết tập Kinh điển, truyền bá đạo Phật trong và ngoài nước Ấn Độ đệ nhất. (O)

Nhất tâm kính lễ Vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông, vị hoàng đế từ bỏ ngai vàng lên núi Yên tử đi tu, khai sáng dòng thiền Trúc Lâm, truyền bá đạo Phật khắp nước Việt Nam đệ nhất. (O)

Nhất tâm kính lễ Bồ Tát Thích Quảng Đức, vị thầy tài đức có công bảo vệ chánh Pháp, ủng hộ Tăng đoàn, giúp Phật giáo Việt Nam tồn tại vững chãi và sáng ngời trên thế gian này đệ nhất. (O)

Đệ tử chúng con nhớ ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, những người đã cho chúng con tấm thân vật lý này, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trú trong ba đời và mười phương. (O)

Đệ tử chúng con nhớ ơn giáo huấn của sư trưởng, những người đã khai mở cho chúng con tấm thân đạo đức, thiền định, và trí tuệ, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trú trong ba đời và mười phương. (O)

Đệ tử chúng con nhớ ơn hoằng pháp, hộ pháp, duy trì, và phát triển Phật pháp của các vị Tổ Sư, những người có công truyền đạo từ Tây trúc, Việt Nam, Hoa kỳ, và các Châu lục, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trú trong ba đời và mười phương. (O)

Đệ tử chúng con nhớ ơn các anh hùng dân tộc, những người có công lập quốc, dựng nước, và giữ nước từ nghìn xưa cho tới ngày nay, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trú trong ba đời và mười phương. (O)

Đệ tử chúng con nhớ ơn các quốc gia, nơi chúng con sinh ra, lớn lên, tu học, và làm việc, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trú trong ba đời và mười phương. (O)

Đệ tử chúng con nhớ ơn các vị đệ tử, những người có công học đạo, hiểu đạo, hành đạo, hộ đạo, và góp phần hoằng dương đạo Pháp, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trú trong ba đời và mười phương. (O)

Đệ tử chúng con nhớ ơn các vị thí chủ, đàn na, tín thí, những người có công học pháp, hiểu pháp, hành pháp, hộ pháp, và góp phần hoằng dương Phật pháp, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trú trong ba đời và mười phương. (O)

Đệ tử chúng con nhớ ơn pháp giới chúng sinh, môi trường thiên nhiên, và xã hội thanh bình, đã cho chúng con cuộc sống an vui và hạnh phúc, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trú trong ba đời và mười phương. (O)

Kệ Sám Hối

Con đã gây ra bao lầm lỡ

Khi nói, khi làm, khi tư duy

Ðam mê, hờn giận và ngu si

Nay con cúi đầu xin sám hối

Một lòng con cầu Phật chứng tri

Bắt đầu hôm nay nguyền làm mới

Nguyện sống đêm ngày trong chánh niệm

Nguyện không lặp lại lỗi lầm xưa.

Bao nhiêu lầm lỗi cũng do tâm

Tâm tịnh còn đâu dấu lỗi lầm

Sám hối xong rồi lòng nhẹ nhõm

Ngàn  xưa mây bạc vẫn thong dong.

Tội từ tâm khởi, đem tâm sám,

Tâm được tịnh rồi, tội liền tiêu;

Tội tiêu, tâm tịnh thảy đều không,

Thế mới thật là chân sám hối.

Nam mô Bồ Tát Cầu Sám Hối (3 lần, O)

Phòng Hộ Chuyển Hóa

Ðệ tử chúng con từ vô thỉ

Gây bao nghiệp chướng bởi lầm mê

Vào ra sanh tử biết bao lần

Nay đến trước đài Vô Thượng Giác.

Biển trần khổ lâu đời trôi giạt

Hôm nay trông thấy Ðạo huy hoàng

Con hướng về theo ánh từ quang

Lạy Phật Tổ soi đường dẫn bước. (C)

Bao tội khổ trong đời ác trược

Vì tham, sân, si, mạn gây nên

Hôm nay đây khẩn thiết thệ nguyền

Xin sám hối để lòng thanh thoát

Trí tuệ quang minh như nhật nguyệt

Từ bi vô lượng cứu quần sanh

Con nhất tâm nguyện sống đời lành

Ðem thân mạng nương nhờ Tam Bảo

Lên thuyền Từ vượt qua biển Khổ

Cầm đuốc thiêng ra khỏi rừng Mê

Văn, Tư, Tu xin quyết hành trì

Thân, Miệng, Ý noi về chánh kiến

Ði đứng nằm ngồi trong chánh niệm

Vào ra cười nói tướng đoan nghiêm

Mỗi khi tâm buồn giận lo phiền

Nguyện nhiếp niệm trở về hơi thở

Mỗi bước chân đi vào Tịnh Ðộ

Mỗi cái nhìn thấy được Pháp thân

Khi sáu căn tiếp xúc sáu trần

Ðem ý thức tinh chuyên phòng hộ

Tập khí năm xưa rồi chuyển hóa

Vườn tâm tuệ giác nở trăm hoa

Niềm an vui đem khắp mọi nhà

Hạt giống tốt gieo về muôn lối

Cùng tăng thân xin nguyền ở lại

Nơi cõi đời làm việc độ sanh

Giờ phút này sông núi chứng minh

Cúi xin đức Từ Bi nhiếp thọ.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (O)

Sám Nguyện

Trang nghiêm đài sen ngự tọa

Ðại hùng từ phụ Thích Ca

Ðệ tử lắng lòng thanh tịnh

Bàn tay chắp thành liên hoa

Cung kính hướng về Ðiều Ngự

Dâng lời sám nguyện thiết tha.

Ðệ tử phước duyên thiếu kém

Sống trong thất niệm lâu dài

Không được sớm gặp chánh Pháp

Bao nhiêu phiền lụy đã gây

Bao nhiêu lỡ lầm vụng dại

Vô minh che lấp tháng ngày

Vườn tâm gieo hạt giống xấu

Tham, sân, tự ái dẫy đầy

Những nghiệp sát, đạo, dâm, vọng

Gây nên từ trước đến nay

Những điều đã làm, đã nói

Thường gây đổ vỡ hàng ngày.

Bao nhiêu não phiền nghiệp chướng

Nguyện xin sám hối từ đây. (O)

Ðệ tử thấy mình nông nổi

Con đường chánh niệm lãng xao

Chất chứa vô minh phiền não

Tạo nên bao nỗi hận sầu;

Có lúc tâm tư buồn chán

Mang đầy dằn vặt lo âu,

Vì không hiểu được kẻ khác

Cho nên hờn giận, oán cừu;

Lý luận xong rồi trách móc

Mỗi ngày mỗi chuốc khổ đau

Chia cách hố kia càng rộng

Có ngày không nói với nhau

Cũng không muốn nhìn thấy mặt

Gây nên nội kết dài lâu;

Nay con hướng về Tam Bảo

Ăn năn khẩn thiết cúi đầu. (O)

Ðệ tử biết trong tâm thức

Bao nhiêu hạt tốt lấp vùi:

Hạt giống thương yêu, hiểu biết

Và bao hạt giống an vui.

Nhưng vì chưa biết tưới tẩm

Hạt lành không mọc tốt tươi

Cứ để khổ đau tràn lấp

Làm cho đen tối cuộc đời

Quen lối bỏ hình bắt bóng

Ðuổi theo hạnh phúc xa vời

Tâm cứ bận về quá khứ

Hoặc lo rong ruổi tương lai

Quanh quẩn trong vòng buồn giận

Xem thường bảo vật trong tay

Dày đạp lên trên hạnh phúc

Tháng năm sầu khổ miệt mài;

Giờ đây trầm xông bảo điện

Con nguyền sám hối đổi thay. (O)

Ðệ tử tâm thành quy ngưỡng

Hướng về chư Bụt mười phương

Cùng với các vị Bồ Tát

Thanh văn, Duyên giác, thánh hiền

Chí thành cầu xin sám hối

Bao nhiêu lầm lỡ triền miên

Xin lấy cam lồ tịnh thủy

Tưới lên dập tắt não phiền

Xin lấy con thuyền chánh Pháp

Ðưa con vượt nẻo oan khiên

Xin nguyện sống đời tỉnh thức

Học theo đạo lý chân truyền

Thực tập nụ cười hơi thở

Sống đời chánh niệm tinh chuyên. (O)

Ðệ tử xin nguyền trở lại

Sống trong hiện tại nhiệm mầu

Vườn tâm ươm hạt giống tốt

Vun trồng hiểu biết, thương yêu.

Xin nguyện học phép quán chiếu

Tập nhìn tập hiểu thật sâu

Thấy được tự tánh các pháp

Thoát ngoài sanh tử trần lao

Nguyện học nói lời ái ngữ

Thương yêu, chăm sóc sớm chiều

Ðem nguồn vui tới mọi nẻo

Giúp người vơi nỗi sầu đau

Ðền đáp công ơn cha mẹ

Ơn thầy nghĩa bạn dày sâu.

Tín thành tâm hương một nén

Ðài sen con nguyện hồi đầu

Nguyện đức từ bi che chở

Trên con đường đạo nhiệm mầu

Nguyện xin chuyên cần tu tập

Vuông tròn đạo quả về sau.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (O) 

 

NGHI THỨC ĂN CƠM CHÁNH NIỆM

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần, O)

Chúng con đem hết lòng thành kính xin cúng dường cha và mẹ.

Chúng con đem hết lòng thành kính xin cúng dường chư Phật và chư vị Bồ Tát.

Chúng con đem hết lòng thành kính xin học, hiểu, và hành trì giáo Pháp vi diệu.

Chúng con đem hết lòng thành kính xin cúng dường Tăng Đoàn.

Chúng con đem hết lòng thành kính xin tri ơn và nhớ ơn những vị thí chủ hảo tâm đã, đang, và sẽ góp phần hộ trì Tam Bảo và cúng dường bữa cơm cho đại chúng hôm nay.

Chúng con đem hết lòng thành kính xin tri ơn và bảo hộ những nơi chúng con sinh ra, lớn lên, tu học, sinh sống, và làm việc.

Chúng con đem hết lòng thành kính xin góp phần cầu nguyện và hồi hướng phước đức này lên khắp pháp giới chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

Bằng tấm thân phước đức,

bằng tấm lòng từ bi,

nay đem dâng cúng cơm này,

Ước mong tất cả Tăng đoàn an vui. (O)

Vị Chủ Sám xướng lên: Đức Thế Tôn dạy rằng: “Trong khi ăn cơm chánh niệm, chúng ta phải nhớ thực tập năm điều quán tưởng dưới đây. Đại chúng, khi nghe tiếng chuông, xin nhiếp tâm cùng nhau đọc, tụng.” (O)

  1. Thức ăn này là tặng phẩm của đất, trời, của muôn loài và công phu lao tác.
  2. Xin tập ăn trong chánh niệm và lòng biết ơn để xứng đáng thọ dụng thứ ăn này.
  3. Khi ăn, xin nhớ nhận diện và chuyển hóa những tâm hành xấu, nhất là tật ăn uống không có chừng mực.
  4. Xin nguyện ăn như thế nào để giảm thiểu được khổ đau của muôn loài, bảo hộ trái đất và chấm dứt những nguyên nhân gây biến đổi khí hậu bất thường.
  5. Vì muốn xây dựng tăng thân, nuôi dưỡng tình huynh đệ và thực tập con đường hiểu và thương nên chúng con xin thọ dụng thứ ăn này.

Vị sám Chủ xướng lên: “Cung thỉnh Đại chúng thọ trai.” Đại chúng cùng đáp: “A Di Đà Phật.” (O)     

Hồi hướng

Thọ nhận thức ăn này,

Cầu nguyện cho tất cả,

Đệ tử và chúng sanh,

Đều trọn thành Phật đạo. (O)

 

 

NGHI THỨC CÚNG GIÁC LINH

Kính mời môn đồ Pháp quyến,

Hoan hỷ đến trước Giác Linh

Tất cả thứ tự đều quỳ,

Nhất tâm làm lễ tưởng niệm.

 

Dâng hương lên án cúng dường,

Đảnh lễ giác linh ba lạy,

Tất cả mọi người đều ngồi,

Chí thành lắng nghe làm lễ.

 

Hoa sen nở rộ ở cõi lành

Giác linh tỏ ngộ với chân tâm

Tin sâu nhân quả và chánh tin

Con đường Bát chánh rất thậm thâm.

Nam Mô Phật

Nam Mô Pháp

      Nam Mô Tăng. (O)

1) Nam Mô Nhất Tâm Phụng Thỉnh:

Hoằng dương chánh pháp muôn phương

Ba y một bát trên dường thong dong

Quyết tâm độ chúng phàm nhân

Bồ đề quả mãn trọn phần an vui.

Hôm nay, nhân ngày cúng lễ tưởng niệm Giác Linh ………tại Chùa ………., Tăng Ni và quý Phật tử thiết lễ phẩm vật cúng dường, nhất tâm cầu nguyện Giác Linh …………….từ bi chứng giám.

Hương hoa thỉnh, hương hoa triệu thỉnh. (O)

Kính mời Đại Chúng cùng niệm danh hiệu Đức Phật Thích Ca ba lần.

  Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (O)

2) Nam Mô Nhất Tâm Phụng Thỉnh:

Một bát cơm ngàn nhà

Thân đi muôn dặm xa

Chỉ vì việc sanh tử

Giáo hóa tháng ngày qua.

Hôm nay, nhân ngày cúng lễ tưởng niệm Giác Linh ………tại Chùa ………., Tăng Ni và quý Phật tử thiết lễ phẩm vật cúng dường, nhất tâm cầu nguyện Giác Linh …………….từ bi chứng giám.

Hương hoa thỉnh, hương hoa triệu thỉnh. (O)

Kính mời Đại Chúng cùng niệm danh hiệu đức Bồ Tát Quan Thế Âm ba lần.

Nam Mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ. (O)

3) Nam Mô Nhất Tâm Phụng Thỉnh:

Bây giờ Sư an tịnh

Ngay tại trú xứ này.

Tâm an nhàn thanh thản

Tịnh Độ ở nơi đây. (O)

Hôm nay, nhân ngày cúng lễ tưởng niệm Giác Linh ………tại Chùa ………., Tăng Ni và quý Phật tử thiết lễ phẩm vật cúng dường, nhất tâm cầu nguyện Giác Linh …………….từ bi chứng giám.

Hương hoa thỉnh, hương hoa triệu thỉnh. (O)

Kính mời Đại Chúng cùng niệm danh hiệu đức Bồ Tát Địa Tạng ba lần.

Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. (O)

Tâm Kinh Tuệ Giác Qua Bờ

Avalokita, khi quán chiếu sâu sắc

Với tuệ giác qua bờ,

Bỗng khám phá ra rằng:

Năm uẩn đều trống rỗng.

Giác ngộ được điều đó,

Bồ-tát vượt ra được

Mọi khổ đau ách nạn.

Này Śāriputra,

Hình hài này là không,

Không là hình hài này;

Hình hài chẳng khác không,

Không chẳng khác hình hài.

Điều này cũng đúng với

Cảm thọ và tri giác,

Tâm hành và nhận thức.

“Này Śāriputra,

Mọi hiện tượng đều không,

Không sinh cũng không diệt,

Không có cũng không không,

Không dơ cũng không sạch,

Không thêm cũng không bớt.

Cho nên trong cái không,

Năm uẩn đều không thể

Tự riêng mình có mặt.

Mười tám loại hiện tượng

Là sáu căn, sáu trần

Và sáu thức cũng thế;

Mười hai khoen nhân duyên

Và sự chấm dứt chúng

Cũng đều là như thế;

Khổ, tập, diệt và đạo

Tuệ giác và chứng đắc

Cũng đều là như thế. (O)

Khi một vị bồ-tát

Nương tuệ giác qua bờ

Không thấy có sở đắc

Nên tâm hết chướng ngại.

Vì tâm hết chướng ngại

Nên không còn sợ hãi,

Đập tan mọi vọng tưởng,

Đạt niết-bàn tuyệt hảo.

Chư Phật trong ba đời

Nương tuệ giác qua bờ

Đều có thể thành tựu

Quả chánh giác toàn vẹn.

Vậy nên phải biết rằng

Phép tuệ giác qua bờ

Là một linh chú lớn,

Là linh chú sáng nhất,

Là linh chú cao tột,

Không có linh chú nào

Có thể so sánh được.

Là tuệ giác chân thực

Có khả năng diệt trừ

Tất cả mọi khổ nạn.

Vậy ta hãy tuyên thuyết

Câu linh chú qua bờ:

Gate, gate, pāragate, pārasamgate, bodhi, svaha.”

(3 lần)

“Vượt qua, vượt qua, khéo vượt qua, vượt qua rồi,

đạt giác ngộ, vui lắm thay.” (3 lần, O)

Quán Chiếu Thân, Tâm, và Nghiệp

Tôi phải già, tôi không thể nào tránh khỏi cái già;

Tôi phải bệnh, tôi không thể nào tránh khỏi cái bệnh;

Tôi phải chết, tôi không thể nào tránh khỏi cái chết;

Tất cả những gì do thân nghiệp, khẩu nghiệp, và ý nghiệp của tôi tạo tác và gây ra, tôi không thể nào xa lìa và buông bỏ chúng, dù đó là nghiệp thiện, hay nghiệp bất thiện;

Ý thức rằng nghiệp thiện tôi tiếp tục duy trì và phát triển; nghiệp bất thiện tôi cố gắng nhận diện và chuyển hóa;

Tất cả những người thân, người thương, và những gì tôi trân quý hôm nay, một mai này tôi chắc chắn sẽ phải xa lìa và buông bỏ, tôi không thể nào tránh thoát khỏi sự xa lìa và buông bỏ ấy.

Tôi là kẻ thừa tự của những nghiệp quả, những cái duy nhất mà tôi có thể mang theo với tôi sau này. (O)

Thân Tâm Tự Tại

Thân này không phải là tôi,

Tôi không kẹt vào nơi thân ấy,

Tôi là sự sống thênh thang,

Chưa bao giờ từng sinh,

cũng chưa bao giờ từng diệt.

Nhìn kia! Biển rộng trời cao,

Muôn vàn tinh tú lao xao.

Tất cả biểu hiện cùng tôi

từ nguồn linh tâm thức,

từ muôn đời tôi vẫn tự do.

Tử sinh là cửa ngõ ra vào,

tử sinh là trò chơi cút bắt.

Hãy mỉm cười cùng tôi,

Hãy thở nhẹ cùng tôi,

Hãy niệm Phật cùng tôi,

Hãy thiền tập cùng tôi.[1]

Cung thỉnh Giác Linh dùng Cơm

Hôm nay dâng cúng cơm nầy
Sắc, hương, mỹ, vị biến đầy hư không
Thành tâm tha thiết ngưỡng mong
Giác Linh nạp thọ, trọn lòng kính dâng. (O)

Cunh thỉnh Giác Linh dùng trà

Thân từ giả thế gian,

Tâm tự tại an nhàn

Đến đi không vướng mắc,

Vượt thoát cảnh trần gian.

Kính mời Đại Chúng xin nhất tâm Niệm Phật

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

(3 lần, O)

 

Một là lễ kính đức Phật.

Hai là xưng tán Như Lai.

Ba là rộng tâm cúng dường.

Bốn là sám hối nghiệp chướng.

Năm là vui trồng công đức.

Sáu là vận chuyển xe Pháp

Bảy là thỉnh Phật ở đời

Tám là ứng dụng Phật pháp

Chín là giáo hóa chúng sanh.

Mười là hồi hướng tất cả.

 

Lễ cầu nguyện vừa xong

Giữ thanh tịnh tấm lòng

Xin môn đồ, Pháp quyến

Kính Giác Linh ba lạy(O)

Phục nguyện:

Từ bỏ thân vật lý

Giữ ba nghiệp trọn lành

Giác Linh về cõi Phật

Nhẹ nhàng như khói mây.

 

Mong Giác Linh trở lại

Thế giới ta bà này

Tiếp tục nguyện độ sanh

Cùng lên bờ giác ngộ. 

Môn đồ Pháp Quyến lễ tạ Giác Linh Ba lạy. (O)

Nguyện đem công đức này,

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sanh

Đều trọn thành Phật đạo. (O O O) 

 

NGHI THỨC CÚNG HƯƠNG LINH 

Xin mời môn đồ (tang gia) hiếu quyến

Hoan hỷ đến trước linh đài

Tất cả thứ tự đều quỳ

Một lòng làm lễ tưởng niệm.

 

Dâng hương lên án cúng dường

Cúi lễ hương linh 2/4 lạy

Tất cả mọi người đều ngồi

Chí thành lắng nghe làm lễ. (O)

 

Hoa sen nở rộ ở cõi lành

Hương linh tỏ ngộ với chân tâm

Tin sâu nhân quả và chánh tín

Con đường Bát chánh rất thậm thâm.

Nam Mô Phật.

Nam Mô Pháp.

     Nam Mô Tăng. (O) 

1) Nhất tâm triệu thỉnh:

Nương tựa Tam Bảo, hành trì năm điều đạo đức, không làm các việc ác, siêng làm các việc lành, giữ tâm ý trong sạch bằng cách phát nguyện ngồi thiền, ăn chay, tụng kinh, và niệm Phật.

Hôm nay cúng hương linh cố Phật tử ……………………………. Pháp danh……….….. ….sanh ngày …………… vãng sanh lúc …… ngày………………… tại…………hưởng thọ / dương…….

Bây giờ lễ phẩm kính dâng, để con cháu tỏ lòng hiếu thảo, nương nhờ Tam Bảo chứng minh, cung thỉnh hương linh, về lại linh tiền, thính pháp nghe kinh, hưởng cam lồ pháp vị. 

Hương hoa thỉnh, hương hoa triệu thỉnh. (O)

Kính mời Đại Chúng cùng niệm danh hiệu Đức Phật Thích Ca ba lần.

 Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (O)

 2) Nhất tâm triệu thỉnh:

Biết thân giả tạm,

Ngộ tánh chơn thường.

Sống trong tỉnh thức,

Chết trong an vui.

Hôm nay cúng tiến hương linh cố Phật tử ………..…… Pháp danh…………………. sanh ngày ………….. vãng sanh lúc …… ngày… tại…………hưởng thọ / dương……………….….

Nghe lời Phật pháp,

Tỏ ngộ tự tâm,

Dứt sạch mê lầm,

Vãng sanh Tịnh độ.

Hương hoa thỉnh, hương hoa triệu thỉnh. (O)

Kính mời Đại Chúng cùng niệm danh hiệu đức Bồ Tát Quan Thế Âm ba lần. 

Nam Mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ. (O)

 3) Nhất tâm triệu thỉnh:

Con đường Bát Chánh rất thậm thâm

Chúng ta tu học với nhất tâm 

Pháp học, pháp hành luôn tinh tấn

Khai nguồn tuệ giác thoát mê lầm.

Hôm nay cúng tiến hương linh cố Phật tử ……………… Pháp danh………………. sanh ngày ………….. vãng sanh lúc …… ngày… tại…………hưởng thọ / dương…………………….

Sen vàng nở rộ,

Tỏa ánh hào quang,

Chim hót thông reo,

Vui lời Diệu Pháp.

Nay được duyên lành nương nhờ Đức Phật, bây giờ đây thính pháp nghe kinh, hương linh một dạ chí thành, hướng về Tam Bảo trọn lòng kính dâng. 

Hương hoa thỉnh, hương hoa triệu thỉnh. (O)

Kính mời Đại Chúng cùng niệm danh hiệu đức Bồ Tát Địa Tạng ba lần. 

Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. (O) 

Kính mời Hương Linh dùng Cơm 

Hôm nay dâng cúng cơm nầy
Sắc, hương, mỹ, vị biến đầy hư không
Thành tâm tha thiết ngưỡng mong
Hương linh nạp thọ, trọn lòng kính dâng. 

Kính mời Hương Linh dùng trà (O)

Thân từ giả thế gian,

Tâm tự tại an nhàn

Đến đi không vướng mắc,

Vượt thoát cảnh trần gian.

 

Cha mẹ/ người thương còn tại thế,

Dâng pháp thực cúng dường.

Nay cha/ mẹ không còn nữa,

Đức hạnh phải noi gương.

Lạy tạ hương linh hai/ ba lạy. (O)

 

Lễ cúng linh đã mãn,

Việc hiếu thảo chu toàn,

Tất cả các cháu con,

Đều một lòng niệm Phật.

Nam Mô A Di Đà Phật (O) 

Phục nguyện:

Mưa pháp thấm nhuần

Bồ đề tâm nuôi lớn,

Mây lành che mát,

phiền não nghiệp chướng tiêu tan,

Xin vun trồng phước lành sắp tới,

già trẻ lớn nhỏ đồng nhờ

Ba ngôi quý báu tôn thờ,

năm điều đạo đức giữ trọn.   

Ta bà tỏa sáng, đất Phật nở hoa.

Nước cam lồ rửa sạch lòng trần,

Đèn tuệ giác sáng soi tăm tối.

Hướng tâm không thoái chuyển.

Nguyện chứng quả vô sanh.

Phật đạo viên thành,

Chúng sanh đều độ khắp. (O) 

Lại nguyện

Đất nước an lành,

Gia đình hạnh phúc

Thế giới hòa bình,

Nhân sinh an lạc.

 (OOO)

 

 

 

 

[1]  Xem Anguttara Nikaya III.

71 http://www.buddhanet.net/budsas/ebud/budtch/budteach06.htm#_ednref17     → Anattalakkhana Sutta – Kinh Vô Ngã tướng. Or xem Mahāvagga, p. 13; Samyutta Nikāya pt. iii, p. 66.

http://phathoc.net/thu-vien/kinh/nam-  truyen/7EC203_kinh_vo_nga_tuong/p1.aspx

http://www.thuvien-thichnhathanh.org/index.php/nghe-audio/131-thin-ca/1036-hnh-phuc-bay-gi?start=7

[1] Kinh Hy Hữu, Vị Tằng Hữu Pháp, thuộc Kinh Trung Bộ 123.

[2] Kinh Tập, kệ 679 –694.

[3] Kinh Tăng Chi I, 162 –163.

[4] Kinh Tập, kệ 405 –424.

[5] Kinh Thánh Cầu thuộc Kinh Trung Bộ, I, 163-8.     

[6] Tăng Chi Bộ Kinh I, 29.

[7] Tăng Chi Bộ Kinh I, 37.  

[8] Kinh Trung Bộ I, 83.    

[9] http://awake.kiev.ua/dhamma/tipitaka/2Sutta-Pitaka/4Anguttara-Nikaya/Anguttara1/1-ekanipata/014-Etadaggapali-e.html

[10]   (catūhi vatthūhi parisaṃ saṅgaṅhantānaṃ) (A. i. 26).

[11] http://www.budsas.net/dlpp/bai118/index.htm

[12] Kinh Tương Ưng I, 128.    

[13] Kinh Trung Bộ III, trang l05.    

[14] Kinh Tương Ưng V Phẩm tự mình làm hòn đảo.

[15] Xem Kinh Trường Bộ – Kinh Đại Bát Niết Bàn II số 16.

[16] Kinh Ðại Bát Niết Bàn, thuộc Kinh Trường Bộ 16.

[17] Kinh Phúc Ðức/ Hạnh Phúc được dịch từ Mahamangala Sutta (Sutta Nipata II) Kinh Tập, Tiểu Bộ Kinh trong tạng Pali. Kinh này tương đương trong tạng Hán là phẩm Cát Tường (phẩm thứ 42) của kinh Pháp Cú Thí Dụ (211, tạng kinh Ðại Chính).

[18]   Kinh Tập, 143 – 152. 

[19] Xem www.budsas.org/uni/u-vbud/vbkin140         

Xem  http:/langmai.org/tang-kinh-cac/kinh-van/kinh-van/kinh-nguoi-ao-trang

[20]  Tu-đà-hoàn (Sotāpanna) có nghĩa là một vị thánh nhập vào dòng thánh thứ nhất gọi là dự lưu hay vị dự lưu. Vị này đã chứng ngộ Đạo (Magga) (i) và Quả (Phala) (ii) của Tu-đà-hoàn (Sotāpanna). Tư-đà-hàm (Sakadāgāmī) có nghĩa là một vị thánh nhập vào dòng thánh thứ hai gọi là vị nhất lai. Vị này đã chứng ngộ Đạo (Magga) (iii) và Quả (Phala) (iv) của Tư-đà-hàm (Sakadāgāmī). A-na-hàm (Anāgāmī) có nghĩa là một vị thánh nhập vào dòng thánh thứ ba gọi là vị bất lai. Vị này đã chứng ngộ Đạo (Magga) (v) và Quả (Phala) (vi) của A-na-hàm (Anāgāmī). A-la-hán (S. Arahanta/ P. Arahant) có nghĩa là một vị thánh nhập vào dòng thánh thứ tư gọi là vị xứng đáng được cúng dường (1/ ứng cúng), vị giết giặt phiền não (2/ sát tặc), vị phá tan các điều ác (3/ phá ác), vị làm cho ma phiền não khiếp sợ (4/ bố ma), vị chấm dứt vòng luân hồi sinh tử (5/ vô sinh). Vị này đã chứng ngộ Đạo (Magga) (vii) và Quả (Phala) (viii) của A-la-hán (Arahanta).

(i) và (ii) là một đôi, (iii) và (iv) là một đôi, (v) và (vi) là một đôi, (vii) và (viii) là một đôi, tất cả gồm bốn đôi. Tính từ Đạo và Quả của (i) tới Đạo và Quả của (viii), ta có tổng cộng là bốn đôi và tám vị Thánh Đạo và Quả (Cattāri purisayugāni aṭṭha     purisapuggalā).     

[21] See http://www.aimwell.org/assets/PathofPurification2011.pdf Part II, Chapter VII, pp. 215 – 218. 

[22]  Tu-đà-hoàn (Sotāpanna) có nghĩa là một vị thánh nhập vào dòng thánh thứ nhất gọi là dự lưu hay vị dự lưu. Vị này đã chứng ngộ Đạo (Magga) (i) và Quả (Phala) (ii) của Tu-đà-hoàn (Sotāpanna). Tư-đà-hàm (Sakadāgāmī) có nghĩa là một vị thánh nhập vào dòng thánh thứ hai gọi là vị nhất lai. Vị này đã chứng ngộ Đạo (Magga) (iii) và Quả (Phala) (iv) của Tư-đà-hàm (Sakadāgāmī). A-na-hàm (Anāgāmī) có nghĩa là một vị thánh nhập vào dòng thánh thứ ba gọi là vị bất lai. Vị này đã chứng ngộ Đạo (Magga) (v) và Quả (Phala) (vi) của A-na-hàm (Anāgāmī). A-la-hán (S. Arahanta/ P. Arahant) có nghĩa là một vị thánh nhập vào dòng thánh thứ tư gọi là vị xứng đáng được cúng dường (1/ ứng cúng), vị giết giặt phiền não (2/ sát tặc), vị phá tan các điều ác (3/ phá ác), vị làm cho ma phiền não khiếp sợ (4/ bố ma), vị chấm dứt vòng luân hồi sinh tử (5/ vô sinh). Vị này đã chứng ngộ Đạo (Magga) (vii) và Quả (Phala) (viii) của A-la-hán (Arahanta).

(i) và (ii) là một đôi, (iii) và (iv) là một đôi, (v) và (vi) là một đôi, (vii) và (viii) là một đôi, tất cả gồm bốn đôi. Tính từ Đạo và Quả của (i) tới Đạo và Quả của (viii), ta có tổng cộng là bốn đôi và tám vị Thánh Đạo và Quả (Cattāri purisayugāni aṭṭha     purisapuggalā).    

[23] See http://www.aimwell.org/assets/PathofPurification2011.pdf Part II, Chapter VII, pp. 215 – 218. 

[24]  Xem Anguttara Nikaya III. 71 http://www.buddhanet.net/budsas/ebud/budtch/budteach06.htm#_ednref17     → Anattalakkhana Sutta – Kinh Vô Ngã tướng. Or xem Mahāvagga, p. 13; Samyutta Nikāya pt. iii, p. 66.

[25]  Xem Kinh Vô Ngã Tướng (Anattalakkhana Sutta

http://phathoc.net/thu-vien/kinh/nam-  truyen/7EC203_kinh_vo_nga_tuong/p1.aspx

http://www.thuvien-thichnhathanh.org/index.php/nghe-audio/131-thin-ca/1036-hnh-phuc-bay-gi?start=7

[26][26]  Kinh Trung Bộ 131. Kinh Người Biết Sống Một Mình

[27] Xem Trường A Hàm, (Dīrghāgama), Phần II, Kinh số 16, và Kinh Bộ Kinh (Dīgha Nikaya), Kinh số 31.

[28] See Anguttara Nikaya, III.65 Kalama Sutta

http://www.intratext.com/IXT/ENG0228/_PK.HTM

[29]  Sáu ngà tượng trưng cho sáu hạnh nguyện đích thực của một vị Bồ-tát ra đời để cứu độ chúng sinh, đó là: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, và trí tuệ (Sáu Ba-la-mật).

[30]  Hai dòng nước dụ cho ngày và đêm, sáng và tối, hạnh phúc và khổ đau, v.v…

[31]  Bảy bước tượng trưng cho bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc, và ba thời: Quá khứ, hiện tại, tương lai.

[32] Xem http://thanhnhung2.weebly.com/nghi-thuc-cung-vong.html

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *